phần Mở Đầu, Kết luận khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phục lục, nội dung luận văn gồm 3 chương Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động ngoài trường cho trẻ mầm non 5 tuổi. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động ngoài trường cho trẻ mầm non 5 tuổi thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý hoạt động ngoài trường cho trẻ mầm non 5 tuổi thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái4Nguyên http://www.vn/ Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRƢỜNG CHO TRẺ MẦM NON 5 TUỔI 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề Giáo dục mầm non (GDMN) đang ngày càng khẳng định tầm quan trọng và vị thế trong hệ thống giáo dục quốc dân và thu hút được sự quan tâm của Đảng nhà nước trong việc đầu tư chăm lo cho giáo dục mầm non, điều này đx được thể hiện trong Nghị quyết TW4 khóa VII, Nghị quyết TW2 khóa VIII, Nghị quyết TW 6 khoá IX về GD-ĐT của Đảng. Vì vậy, từ năm 1994 lại nay, số lượng trẻ tới nhà trẻ ổn định, trường lớp MN tiếp tục tăng lên. Đặc biệt là từ khi có Quyết định 149/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Đề án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006- 2015 thì công tác quản lý giáo dục nói chung và GDMN nói riêng đã liên tục đổi mới, chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ không ngừng nâng cao. Một trong những quan điểm cơ bản của GDMN nước ta là coi trọng việc tổ chức các hoạt động vui chơi cho trẻ trong và ngoài nhà trường là vấn đề rất quan trọng trong việc phát triển tình cảm, đạo đức, thẫm mỹ, trí tuệ, lao động.
Giáo dục MN là tổ chức mọi hoạt động của trẻ nhằm hoàn thiện hoạt động vui chơi làm nảy sinh các yếu tố của hoạt động học tập và những tiền đề của hoạt động lao động. Giai đoạn trẻ ở trường mầm non là giai đoạn phát triển rất quan trọng của cả đời người. GDMN có nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe và phát triển nền móng nhân cách con người XHCN từ những năm đầu đời. Trong đó nhiệm vụ giáo dưỡng là rèn luyện các hoạt động trong và ngoài nhà trường được đặt lên hàng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái5Nguyên http://www.
Thế nên vấn đề này là một vấn đề luôn được sự quan tâm của các nhà khoa học từ xưa cho đến nay, trong nước cũng như ngoài nước. Sự nghiệp GDMN cần có nhiều hình thức và biện pháp phù hợp với yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, để ngày càng có nhiều trẻ em được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục tốt hơn. Trong những năm qua vấn đề quản lý GDMN đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau đã được thực hiện: đề tài cấp Bộ, một số luận văn tiến sĩ, thạc sĩ. - Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà nghiên cứu việc “tổ chức cho trẻ vui chơi ở trường MG” với nhiều nội dung rất phong phú, đa dạng và có kết luận rằng “Việc tổ chức cho trẻ vui chơi và việc hướng dẫn các trò chơi cho trẻ có những nội dung, phương pháp khác nhau” và “GV phải nắm được tình hình vui chơi của trẻ trong lớp và các phương pháp hướng dẫn để phát triển trò chơi cho trẻ” [14].
- Trong cuốn “ Tổ chức, hướng dẫn trẻ MG chơi” PGS. PTS Nguyễn Thị Ánh Tuyết cùng hai tác giả Nguyễn Thị Hoà, Đinh Thị Vang cũng đã nói rất nhiều về tầm quan trọng của việc tổ chức HĐVC cho trẻ “Tổ chức chơi cho trẻ là tổ chức cuộc sống của trẻ” [23]. - Tài liệu bồi dưỡng “CBQL và GVMN 2006” Bộ giáo dục cũng đã đề cập “Vui chơi là hoạt động chủ đạo, có tác dụng GD và phát triển trẻ toàn diện. GV cần hiểu rõ tầm quan trọng và cách thức tiến hành, đánh giá HĐVC theo những yêu cầu mới trong chương trình GDMN” [4].
- Đề tài cấp Bộ: Những biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc- giáo dục trẻ của trường Mầm non (Phạm Thị Châu trường Cao đẳng sư phạm nhà trẻ - Mẫu giáo TW1, năm 1995) đề tài đã đề cập một số biện pháp chỉ đạo chuyên môn của Ban giám hiệu và các cấp quản lý nhằm góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái6Nguyên http://www.vn/ - Đề tài: Một số biểu hiện năng lực tổ chức của người Hiệu trưởng trường mầm non Hà Nội (Nguyễn Thị Lộc - Đại học sư phạm Hà Nội 1, năm 1997). - Luận văn thạc sĩ: Biện pháp quản lý cơ sở MN Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc- giáo dục trẻ (Nguyễn Thị Hoài An, Hà Nội, 1999). Công trình nghiên cứu này đề cập đến các biện pháp quản lý trường tư thục, một loại hình cơ sở GDMN mới xuất hiện.
- Luận văn thạc sỹ: Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ của hiệu trưởng trường Mầm non trọng điểm trên địa bàn tỉnh Nghệ An (Trần Thị Kim Dung, Nghệ An, 2006). Những tác giả trên đã nghiên cứu nhiều vấn đề quản lý hoạt động vui chơi và tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ trong trường mầm non theo hướng riêng của mình. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về các biện pháp tăng cường hoạt động ngoài trường cho trẻ mầm non 5 tuổi nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ mầm non 5 tuổi thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh. Một số khái niệm công cụ của đề tài 1.
Quản lý Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động. Sự cần thiết của quản lý được C. Mac viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân…. Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng.
Mac đã chỉ ra bản chất quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu quan trọng trong quá trình phát triển Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái7Nguyên http://www.vn/ của xã hội loài người. Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, “Hoạt động quản lý là hoạt động bao gồm hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau; trong đó, “quản” có nghĩa là duy trì và ổn định hệ, “lý” có nghĩa là đổi mới hệ”. [2] Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát: Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra.
Quản lý giáo dục Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của QLGD. Dạy học và GD trong sự thống nhất là hoạt động trung tâm của nhà trường. Mọi hoạt động đa dạng và phức tạp khác của nhà trường đều hướng vào tiêu điểm này. Vì vậy, quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm của thầy, hoạt động học - tự GD của trò diễn ra trong quá trình dạy học - GD.
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm QLGD là khái niệm đa cấp (bao hàm cả quản lý hệ GD quốc gia, quản lý các phân hệ của nó đặc biệt là quản lý trường học): Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.[21, tr 35] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái8Nguyên http://www.vn/ - Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học. Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực,…”. Như vậy có thể hiểu: QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống GD, đạt tới kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất. Nhà trường, quản lý nhà trường 1.
Nhà trường Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của xã hội thực hiện chức năng tái tạo và phát triển xã hội, theo nghĩa hình thành và phát triển nhân cách mỗi thành viên của xã hội, hướng tới sự duy trì và phát triển xã hội. Thiết chế chuyên biệt này hoạt động trong tính qui định của xã hội. Quá trình thể hiện chức năng trên là quá trình tổ chức các hoạt động dạy học và GD theo chương trình được hoạch định chặt chẽ, khoa học. + Nhà trường có nhiệm vụ thực hiện mục tiêu GD, đào tạo nhân cách.
+ Nhà trường có nội dung và phương pháp GD chọn lọc, tổ chức chặt chẽ, khoa học. + Nhà trường là lực lượng GD của xã hội mang tính chuyên biệt. + Nhà trường có vai trò chủ đạo trong việc phối hợp với gia đình và các lực lượng xã hội khác để chăn sóc giáo dục cho học sinh. Trường mầm non là đơn vị cơ sở của bậc giáo dục mầm non thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
Trường có vị trí quan trọng là xây dựng cơ sở ban Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái9Nguyên http://www.vn/ đầu cho việc hình thành, phát triển nhân cách và chuẩn bị tiền đề cần thiết cho trẻ em bước vào trường tiểu học. Quản lý nhà trường Vấn đề cơ bản của QLGD là quản lý nhà trường, vì nhà trường là cơ sở GD, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu GD.