CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA- ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Lịch sử phát triển giáo dục và thực tiễn trên thế giới cho thấy: việc đánh giá (ĐG) chất lượng học sinh (HS) là khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học, nó vừa là động lực, vừa là nhân tố nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường. Để ĐG được hiệu quả của quá trình truyền thụ và tiếp thu tri thức đạt được thì phải thông qua kiểm tra 7 (KT), ĐG. Chính vì vậy, ngay từ khi xuất hiện mô hình nhà trường, các hình thức ĐG mức độ nhận thức của HS cũng ra đời.
Ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia có sự khác nhau nhưng cũng đều đưa ra quy định chuẩn phù hợp với việc ĐG theo yêu cầu của xã hội hiện tại. Từ giữa thập niên 80 của thế kỷ XX, trên thế giới đã có cuộc cách mạng về ĐG với những thay đổi căn bản về triết lý, quan điểm, phương pháp và các hoạt động cụ thể. Thành tựu mới về đánh giá không chỉ đạt được trong lý luận mà còn thành công trong việc triển khai ĐG tại các trường học trong thực tiễn. Những thành tựu đó là những xu hướng ĐG đa dạng như ĐG phát triển, ĐG thực tiễn, ĐG sáng tạo,… Xu hướng ĐG mới nhất của thế giới là ĐG theo năng lực, là “ĐG khả năng tiềm ẩn của HS dựa trên kết quả đầu ra cuối một giai đoạn học tập, là quá trình tìm kiếm minh chứng về việc HS đã thực hiện thành công các sản phẩm đó”.
Công tác ĐG có vị trí rất quan trọng trong nhà trường, nó giúp ĐG công tác quản lý (QL) của lãnh đạo nhà trường, đánh giá giáo viên (GV), đánh giá học sinh (ĐGHS) và ĐG tổng thể về nhà trường. Những thông tin ĐG được phản hồi ngược về cho các đối tượng cụ thể để qua đó nhằm kiểm chứng thông tin đã thu thập được với mong muốn tìm ra cách thức QL, cách thức giảng dạy hoặc cách thức học tập sao cho hiệu quả hơn. Từ những năm 1975 trở lại đây có rất nhiều công trình nghiên cứu giải quyết vấn đề kiểm tra, đánh giá chất lượng HS như: Trong nghiên cứu về vai trò và vị trí của công tác đánh giá trong trường học với nhan đề “Evaluation of schools providing Compulsory Education in Europe” nhóm tác giả của viện nghiên cứu giáo dục châu Âu đã khẳng định công tác đánh giá là chìa khóa để khẳng định tầm quan trọng của việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Ngoài ra, nghiên cứu này cùng chỉ rõ ai sẽ là người tham gia vào công tác đánh giá, các hình thức đánh giá trong trường học, mục tiêu, tiêu chuẩn và các thủ tục để thực hiện công tác đánh giá.
Nhóm tác giả cũng đã chỉ rõ vị trí và vai trò cùa công tác đánh giá trong nhà trường bằng sơ đồ 1. Vai trò của công tác đánh giá trong nhà trường Ta nhận thấy rằng công tác đánh giá có vị trí rất quan trọng trong nhà trường, nó giúp đánh giá công tác quản lý của lãnh đạo nhà trường, đánh giá giáo viên, đánh giá học sinh và đánh giá tổng thể về nhà trường. Qua đó, những thông tin đánh giá được phản hồi ngược về cho các đối tượng cụ thể để qua đó nhằm kiểm chứng thông tin đã thu thập được với mong muốn tìm ra cách thức quản lý, cách thức giảng dạy hoặc cách thức học lập sao cho hiệu quả hơn.2 Nghiên cứu tại Việt Nam Ở nước ta việc ĐG chất lượng học tập được coi là một nhiệm vụ quan trọng của các trường học. Đây là một hoạt động để người học, người dạy và nhà QL đánh giá lại việc làm của mình nhằm có hướng phát huy và điều chỉnh phù hợp.
Chế độ phong kiến Việt Nam trong việc chọn nhân tài cho đất nước phải thông qua các kỳ thi tuyển: Thi Hương, thi Hội, thi Đình. Từ đó chọn tuyển nhân tài rồi phong quan để phục vụ cho đất nước và tuỳ theo cấp thi mà chức quan lại được bổ nhiệm phù hợp với trình độ kỹ năng của họ. Chế độ thi cử phong kiến này tồn tại đến năm 1918 khi thực dân Pháp đã thiết lập được chế độ cai trị ở nước ta. Trong lĩnh vực nghiên cứu KT, các tác giả Hoàng Đức Nhuận, Lê Đức Phúc nêu cơ sở lý luận của việc ĐG chất lượng học tập của HS, tác giả Đặng Vũ Hoạt quan tâm đến hệ thống chức năng KT, ĐG.
Tác giả Hà Thị Đức nghiên cứu cơ sở lý luận thực tiễn và hệ thống biện pháp bảo đảm tính khách quan trong quá trình KT, ĐG tri thức HS sư phạm (1986), nêu lý luận việc thực hiện các chức năng KT, ĐG theo đơn vị kiến thức là phương pháp đánh giá khách quan nhất. Tác giả Phạm Hữu Tòng (1998) có công trình nghiên cứu lý luận về “Xây dựng quy trình, nội dung và hình thức KT- ĐG kiến thức, kỹ năng (KT- KN) của học sinh phổ thông trung học sư phạm”, tác giả Đặng Bá Lãm (1995) với nghiên cứu “Các phương pháp KT- ĐG trong giảng dạy ở phổ thông trung học”. Những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đang thực hiện các chủ trương đổi mới phương pháp, chương trình, nội dung đào tạo và cải tiến hoạt động KT- ĐG kết quả học tập của HS và sinh viên. Do đó, có nhiều công trình khoa học nghiên cứu việc áp dụng phương pháp trắc nghiệm để KT- ĐG kết quả học tập của HS đã được triển 9 khai ở các trường trung học phổ thông và cao đẳng trên toàn quốc như: công trình của Bùi Tuấn Khang (1997), Nguyễn Bảo Hoàng Thanh (1997, 1998, 2000, 2001, 2002), Phạm Thị Thu Hà (1998), Lê Phước Lượng (1998), Trương Hữu Đẳng (1999); Nguyễn Tăng Sang (1999); Trần Thị Tuyết Oanh (2000); Nguyễn Thị Túy Vân (2001).
Trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng chưa có nghiên cứu nào về đánh giá học sinh tiểu học đối với môn Tiếng việt (KT-ĐGHSTH) trong bối cảnh hiện nay từ khi Thông tư 22 sửa đổi, bổ sung một số điều của qui định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT quy định đánh giá học sinh tiểu học BGDĐT ban hành ngày 28 tháng 08 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về ĐGHSTH có hiệu lực. Đến năm 2020 có thêm Thông tư 27/2020/TT- BGDĐT ban hành qui định đánh giá học sinh tiểu học được áp dụng đánh giá cho học sinh khối lớp 1 và lớp 2 các năm học 2020 đến 2022. Tóm lại, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động đánh giá học sinh (HĐKT-ĐGHS) ở các cấp vĩ mô, tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu về Biện pháp QL HĐĐG môn Tiếng Việt học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lí Khi nói đến hoạt động quản lý thì cần khởi đầu từ khái niệm “Tổ chức”.
Các tổ chức khác nhau được phân biệt nhờ mục đích, quy mô cơ cấu của tổ chức và điều kiện tồn tại và phát triển của tổ chức đó. Tuy nhiên, bất luận tổ chức có mục đích quy mô, cơ cấu ra sao đều cần phải có sự QL và có người QL để tổ chức hoạt động đạt được mục đích của mình. Các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: QL là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, QL một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc nhìn nhận: hoạt động QL là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức [6; tr.1] 10 Như vậy, có thể khái quát QL là một quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL lên đối tượng QL và khách thể QL nhằm đạt được mục tiêu chung.
Quản lí giáo dục (QLGD) GD là một hiện tượng xã hội, do đó QLGD được hình thành là một tất yếu khách quan từ QL xã hội, hay nói cách khác: QLGD là một loại hình của QL xã hội. Tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [1; tr. QLGD nói chung và QL trường học nói riêng là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QLGD tới các hoạt động giáo dục trong xã hội nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất” [2; tr. Theo tác giả Trần Kiểm, xét về góc độ cấp vĩ mô: “QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [14; tr.
Ở cấp độ vi mô theo tác giả Trần Kiểm thì: “QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD của nhà trường” [14; tr. Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến toàn bộ các lực lượng và đối tượng GD nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả để đạt được mục tiêu GD.