Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1 Lịch sử nghiên cứu hoạt động học tập (1) Nghiên cứu về vai trò, mục đích, nội dung, phương pháp hoạt động học tập (a)Về vai trò của hoạt động học tập Khổng Tử là nhà triết học, nhà chính trị và là nhà giáo dục nổi tiếng ở Trung Quốc cổ đại. Bộ sách đồ sộ của ông chính là nội dung của Nho giáo: Bộ ngũ kinh: Kinh lễ, Kinh dịch, Kinh xuân thu, Kinh thư, Kinh thi. Ông nghiên cứu việc chỉnh đốn, giảng giải những vấn đề về đạo đức, hai đóng góp lớn của ông: (1) Sáng lập ra tư học; và (2) Sáng lập ra Nho giáo. Chủ trương giáo dục của Khổng Tử: là “Bình dân giáo dục”, đây là chủ trương tiến bộ trong bối cảnh lịch sử bấy giờ (Lê Ngọc Anh, 2014 &Nguyễn Đức Lân, 1998).
Komenxki là nhà giáo dục của Cộng hoà Slôvakia (Tiệp Khắc). Khi nói về vai trò của giáo dục, ông cho rằng: Con người sinh ra mà không được học, không được sự giáo dục của nhà trường và xã hội thì lớn lên chẳng khác nào như những cây mọc hoang dại, sẽ không có khả năng hành động theo đúng mục tiêu của lẽ sống, sẽ không nhìn rõ cái thiện và dễ sa vào cái ác, cái tội lỗi. 11 Khẳng định vai trò học tập của học sinh đối với đất nước trong thư gửi các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000a). Khi nói về vai trò học vấn của các tầng lớp nhân dân đối với công cuộc xây dựng đất nước, Bác Hồ khẳng định: “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000a).
Sự học, trình độ học vấn liên quan đến vận mệnh dân tộc, thể hiện sự mạnh, yếu của một dân tộc: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000a). (b)Về mục đích hoạt động học tập Đối với Nhà nước, những người làm công tác quản lý phải chăm lo sự nghiệp giáo dục, phải coi nó là một trong những điều kiện đem lại nền thịnh trị cho đất nước. Đối với cá nhân, mục đích giáo dục là đào tạo họ thành những người quân tử. Tuy nhiên việc học tập phải dựa vào hai yếu tố: óc thông minh và ý chí học tập (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998).
Để xác định mục đích của việc học tập, Bác Hồ căn dặn: “Các cháu cần nhận rõ mình học cốt để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Học ngành nào cũng cần phải căn cứ vào nhu cầu của Tổ quốc, của nhân dân mà định, không thể tùy theo sở thích của riêng mình” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000c). (c)Về người học và người dạy Khổng Tử cho rằng, giáo dục cần thiết cho mọi đối tượng, không phân biệt các hạng người trong xã hội. Học tập là phương tiện cần thiết duy nhất để mở mang sự hiểu biết, trau dồi đạo đức làm người (Lê Ngọc Anh, 2014&Nguyễn Đức Lân, 1998).
Khổng Tử cho rằng người học phải có nhu cầu nhận thức, ham hiểu biết, khám phá cái mới; phải độc lập suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình nhận thức. Người dạy 12 không chỉ truyền đạt tri thức mà cái cơ bản là dạy năng lực sáng tạo, dạy phương pháp học để người học tự tìm đến tri thức. Ông nói: “Kẻ nào không cố công tìm kiếm, ta chẳng chỉ vẽ. Kẻ nào không bộc lộ tư tưởng của mình, ta chẳng khai sáng cho.
Kẻ nào ta dạy mà không biết hay ta chẳng dạy” (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998). Đối với người học, ngoài học Thầy, học trong sách vở còn học cả trong cuộc sống: “ba người cùng đi, tất có người làm thầy; lựa cái hay của người này mà học, xét cái quấy của người kia mà tự sửa mình”; tư tưởng này rất tiến bộ. Chúng ta có thể học mọi lúc, mọi nơi, mọi người trong bất cứ hoàn cảnh nào (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998). Trong thời kỳ hội nhập hiện nay, khoa học kỹ thuật công nghệ luôn luôn thay đổi.
Do đó, nếu ta thụ động, không tiếp thu tri thức thì sẽ lạc hậu và không theo kịp xu hướng phát triển của thời đại. Vì vậy ta phải luôn học tập, trau dồi kiến thức trong mọi hoàn cảnh. Đối với người dạy, theo Khổng Tử: “học không biết chán, dạy người không mỏi mệt” - thái độ dạy học ấy rất tiến bộ hợp cho mọi thời đại. Khổng Tử còn đặt ra rất nhiều yêu cầu khắt khe đòi hỏi sự nỗ lực của người học đi theo hướng của thầy đã vạch ra (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998).
Ngoài ra, Khổng Tử đòi hỏi khả năng phân tích, tổng hợp của người học để nắm những phần quan trọng nhất của các vấn đề đặt ra. Sự kết hợp giữa học và hành, giữa tri thức và thực tiễn như đòi hỏi việc vận dụng trong Kinh Thi, với việc hành chính và việc của người đi sứ (Lê Ngọc Anh, 2014&Nguyễn Đức Lân, 1998). Theo Thuyết công cụ của John Dewey, mỗi hành động của đứa trẻ chính là công cụ hữu hiệu cho sự nhận thức của nó, cho sự tự khám phá của nó, và đồng thời là phương tiện và cách thức không thể thiếu được cho việc nhận thức chân lý. Một trong những luận điểm căn bản trong triết lý giáo dục của John Dewey là những người học có sự khác biệt với nhau, chính vì vậy việc giảng dạy và chương trình giảng dạy cần phải được thiết kế sao cho có thể đáp ứng được sự khác nhau cũng như các nhu cầu riêng của người học, chứ không thể ghép những người học đó vào cùng một chương trình học tập rập khuôn như nhau.
13 Người học không được coi là người với một cái đầu trống rỗng cần phải được người thầy nhồi nhét kiến thức vào trong đó. Không còn khái niệm thi đỗ hay thi trượt, bởi vì việc đánh trượt một người học sẽ làm người đó nản lòng. Người thầy có vai trò hoàn toàn khác, không còn là người độc đoán, mà là người hướng dẫn thân thiện, đồng thời là một người quản lý, một người tạo điều kiện, một nhà tâm lý, một người phân xử (John Dewey, 2008). Khi nói về ý chí của con người đối với việc học tập thường xuyên, Bác Hồ ân cần căn dặn: “Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được.
Không tiến bộ là thoái bộ. Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu khó học thì lạc hậu, mà lạc hậu thì bị đào thải, tự mình đào thải mình” (Hồ Chí Minh, toàn tập, 1996b). Nói về học tập của thanh niên, Bác Hồ căn dặn: “Ngày nay nước ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thật là người chủ tương lai của nước nhà.
Học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và quân sự và Học để phụng sự ai? Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh, tức là để làm tròn nhiệm vụ người chủ của nước nhà” (Hồ Chí Minh toàn tập, 1996b). “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000b). (d)Nội dung học tập Nội dung giáo dục cơ bản của Nho giáo gồm: “Nhân, Lễ, Trí, Tín”.
Nội dung giáo dục luân lý đạo đức của Khổng Tử được thể hiện trong “Luận ngữ”. “Luận ngữ” chủ trương rèn luyện tính Thiện cho dân bằng phương pháp “cất nhắc người tốt, dạy dỗ người không tốt thì dân khuyên nhau làm điều thiện”. Giáo dục đạo đức, gồm 4 mặt: môn đức hạnh; khoa ngôn ngữ; môn chính trị; môn văn học. Chính công việc truyền dạy của ông đã có tác dụng tích cực rất lớn đối với lịch sử văn hóa (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998).
Nội dung giáo dục của Khổng Tử bao gồm những chủ trương nhắm vào việc phục vụ quan điểm chính trị, cũng như vào việc cải tạo xã hội đương thời. Ông tuyệt nhiên không phải dạy “văn học”, dạy “ngôn ngữ”. Khổng Tử rất coi trọng việc 14 học Kinh Thi, không học Kinh Thi thì không biết gì để nói. Theo ông, Kinh Thi có thể làm cho ta phấn khởi, có thể làm cho ta đoàn kết, có thể làm cho ta biết căm thù, gần thì để thờ cha mẹ, xa thì thờ vua, nhưng căn bản là bồi dưỡng đức hạnh, kiến thức, để “thờ cha”, “thờ vua” (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998).
Nội dung giáo dục do Khổng Tử xác định được xây dựng trên thế giới quan duy tâm, tin rằng trời là chúa tể của vũ trụ có thể sắp đặt mọi sự vật hiện tượng theo quy luật nhất định gọi là mệnh trời. Muốn sống phù hợp với đạo trời, với quỷ thần thì phải có: “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”, đó mới là người quân tử (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998). Platon, sinh ra tại Athens, Hy Lạp. Platon là học trò xuất sắc của Socrates.
Platon là nhà triết học duy tâm khách quan. Điểm nổi bật trong hệ thống triết học duy tâm của ông là học thuyết về ý niệm. Trong học thuyết này ông đưa ra hai quan niệm về thế giới các sự vật cảm biết và thế giới các ý niệm (Nguyễn Hữu Vui, 2002). Từ quan niệm trên, Platon đã đưa ra khái niệm “tồn tại” và “không tồn tại”.
“Tồn tại” là cái phi vật chất, cái nhận biết được bằng trí tuệ siêu tự nhiên là cái có tính thứ nhất. Còn “không tồn tại” là vật chất, cái có tính thứ hai so với cái tồn tại phi vật chất. Về mặt nhận thức luận, Platon cũng mang tính duy tâm. Nhận thức con người không phản ánh các sự vật của thế giới khách quan mà chỉ là nhớ lại, hồi tưởng lại của linh hồn những cái đã quên trong quá khứ (Nguyễn Hữu Vui, 2002).
Platon quan niệm tri thức được phân làm hai loại: (i)tri thức hoàn toàn đúng đắn và (ii)tri thức mờ nhạt. Loại thứ nhất là tri thức ý niệm có được nhờ hồi tưởng.