phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn gồm có 03 chương: 4 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục y đức cho sinh viên Cao đẳng Y tế. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục y đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Bình Dương. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục y đức cho sinh viên của Trường Cao đẳng Y tế Bình Dương. Kết luận và khuyến nghị.
5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Y ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giáo dục y đức Có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục y đức khác nhau, nhưng tựu trung có các hướng chính sau: Hướng thứ nhất nghiên cứu về các tiêu chuẩn y đức của người hành nghề y; hướng thứ hai nghiên cứu về vai trò của y đức; hướng thứ ba nghiên cứu về các thành tố của y đức. Hướng nghiên cứu về tiêu chuẩn của người làm nghề y Trên thế giới: Y đức là đạo đức của những người làm nghề y, mang sắc thái của đạo đức nói chung và đạo đức nghề y nói riêng.
Do tính chất đặc biệt của nghề gắn liền với tính mạng, sức khỏe của con người nên những phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc luôn là đối tượng quan tâm của nhiều thế hệ, trong nhiều thời đại khác nhau. Ở Ấn Độ thời cổ đại, tập thơ dân gian “Ana Vêda” đã đề cập đến tiêu chuẩn của người làm nghề y. Đó là những người phải biết hết lòng chăm lo chạy chữa cho bệnh nhân, ngay cả khi phải hy sinh cuộc đời mình cũng không có quyền làm cho bệnh nhân đau đớn. Dù có tài cao học rộng, người thầy thuốc cũng không nên khoe khoang những điều hiểu biết của mình.
Có thể thấy những phẩm chất đạo đức của người làm nghề y đã được nhấn mạnh ở đây chính là lòng nhân ái, sự tận tụy với bệnh nhân cùng với sự khiêm tốn học hỏi. Galen - nhà Y học nổi tiếng của La Mã cổ đại, đã có những quan điểm y đức tiến bộ. Ông đã gay gắt chỉ trích, lên án sự dốt nát, lòng tham lam đê tiện của một số thầy thuốc lúc bây giờ: “Chỉ săn sóc bọn giàu sang, kẻ quyền thế. Những kẻ khác thì cố gắng che giấu sự bất tài của mình trước quần chúng bằng cái hào nhoáng của y phục, những kim cương đắt tiền và những đồ trang sức xa hoa”.
Theo ông, người làm nghề y phải có lòng nhân ái, thương yêu chăm sóc bệnh nhân bất kể đó là ai, phải có cuộc sống giản dị, trung thực đồng thời cũng phải có năng lực chuyên môn cao để hành nghề cứu người. [13] Thời Hy Lạp cổ đại, danh Y Hippocrates (460 - 377 tr.CN) với những quan điểm duy vật về sức khỏe và bệnh tật đã đưa ra những chuẩn mực đạo đức người thầy thuốc đúc kết thành lời thề bất tử Hippocrates. Lời thề ấy chứa đựng yếu tố nhân đạo, đòi hỏi người làm nghề y phải giữ mình, là bổn phận, thái độ ứng xử có lương tâm, có trách nhiệm với đồng loại, đồng nghiệp và với bệnh nhân. Có thể tóm tắt lời thề này bằng những ý cơ bản: "Tôi sẽ coi các thầy học của tôi ngang hàng với các bậc thân sinh của tôi, khi cần tôi sẽ đáp ứng nhu cầu các vị đó, sẽ truyền đạt cho họ những nguyên lý, những bài 6 học truyền miệng và tất cả vốn hiểu biết của tôi; suốt đời hành nghề trong sự vô tư và thân thiết; dù bất cứ giá nào cũng chỉ vì lợi ích người bệnh, tránh mọi hành vi xấu xa, cố ý và đồi bại." Như vậy, ngay từ buổi bình minh của lịch sử Y học phương Tây, Hippocrate đã đưa ra những quan điểm quan trọng, cốt lõi về y đức của người thầy thuốc như chữa bệnh cho người nghèo, tận tâm, tận lực, hết lòng vì người bệnh.
Còn ở phương Đông, y đức có nguồn gốc từ quan niệm: Cái đức của người thầy thuốc là làm tất cả những gì có thể để cứu bệnh nhân từ nước, lửa, cây cỏ như Vêda: Hãy cứu sống kẻ này như mẹ hiền và khi đó các thầy thuốc sẽ được trọng vọng như bậc thần thánh [13] Phật giáo và thuyết nhân - quả luân hồi khuyên người thầy thuốc giỏi phải có đức độ, vị tha như lời khuyên của Phật “Y đức là niết bàn” [13] Chen Shigong (1555–1636) một bác sĩ phẫu thuật vĩ đại ở thời nhà Minh, nội dung nghiên cứu đạo đức sinh học truyền thống Trung Quốc tập trung vào và nhấn mạnh các bác sĩ tự kiểm soát và tự nâng cao phẩm chất của hành nghề y tế. Một số tác phẩm này vẫn được yêu cầu đọc đối với các thầy thuốc Trung Quốc hiện đại. Sau đây là một đoạn trích nổi tiếng từ Da Yi Jing Cheng của Sun Simiao: “Một thầy thuốc vĩ đại không nên để ý đến địa vị, sự giàu có hay tuổi tác; Anh ta cũng không nên đặt câu hỏi liệu người đó hấp dẫn hay không hấp dẫn, liệu anh ta là kẻ thù hay bạn bè, liệu anh ta là người Trung Quốc hay người nước ngoài, hay cuối cùng, liệu anh ta có phải là người không có học thức hay giáo dục hay không. Anh ấy nên gặp gỡ mọi người trên cơ sở bình đẳng.
Anh ấy nên luôn hành động như thể đang nghĩ đến những người thân ruột thịt của mình ”. Từ đầu thế kỷ XIX, những vấn đề về đạo đức y học đã được đề cao trong các bài giảng của các giáo sư lâm sàng hệ Y khoa trường Đại Học Tổng Hợp Mat-xcơ-va: M.Lamucdrop - nhà nội khoa lớn nhất thời kỳ này là đã dạy các sinh viên của mình phải khiêm tốn và thận trọng, đối với bệnh nhân phải thương yêu hết lòng. [25] Năm 1924, trong một Hội nghị cán bộ y tế Liên Xô trước đây, M. Kalinin, một nhà chính trị lỗi lạc đã phát biểu về luân lý nghề y: không thể đem so sánh người cán bộ y tế với những người làm công tác khác được.
Những đức tính mà các nghề khác cần đến thì lại chưa đủ đối với người làm công tác y tế. Còn những đức tính vừa đủ cho những người lao động khác để có thể đạt được những kết quả tốt lại còn là rất ít ỏi đối với người cán bộ y tế. Những năm 1970, đã có một số công trình nghiên cứu về y đức ở Liên bang XHCN Xô Viết, có thể kể đến tác phẩm Những vấn đề cơ bản của đạo đức Y học của tác giả D. I Pixarep [110] hay cuốn: Những vấn đề đạo đức của thầy thuốc của các tác giả N.
Những nghiên cứu trên đã phân tích mối quan hệ giữa đạo đức và y đức, lịch sử y đức, quan niệm về y đức của người thầy thuốc Xô viết và đưa ra những tiêu chuẩn các 7 quan hệ thầy thuốc với bệnh nhân, bệnh nhân với bệnh tật, bệnh nhân với xã hội. J đã xây dựng y đức thành những nguyên lý. Hai tác giả này được coi là những người đầu tiên nâng tầm lý luận về đạo đức y học thành "nguyên lí", là khởi nguồn cho lí luận trong dạy - học đạo đức y học theo các nguyên lý. Ở Việt Nam: Trong lịch sử y tế Việt Nam, các bậc danh y đều cho rằng y đức quan trọng không kém gì y thuật.
Trong số đó phải kể đến danh y Tuệ Tĩnh (Nguyễn Bá Tĩnh thế kỉ XIV) và Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác (1720 - 1791). Các ông không chỉ là các bậc danh y mà còn là những nhà tư tưởng lớn về y đức, luôn nêu cao tấm gương y đức cho hậu thế. Theo Nguyễn Bá Tĩnh (1326-1399), người làm nghề y phải có phẩm chất cao quý đó là lòng nhân ái, yêu thương con người. Đạo làm thuốc của ông là tích cực làm điều lành, cứu giúp nhân dân.
Ông đã viết: Dám khuyên y học hậu lai Tổ sinh tích thiện, phúc trời hậu ta Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình [13] Hải Thượng Lãn Ông đã kế thừa những tư tưởng về y đức và y thuật của Tuệ Tĩnh đặc biệt trong việc sử dụng thuốc nam để chữa bệnh, suốt đời rèn luyện và phục vụ y học, luôn tự nhắc mình phải “tiến đức, tu nghiệp”. "Tiến đức" tức là mỗi ngày phải luôn rèn luyện cho toàn thiện, toàn mỹ đạo đức của người hành nghề y. Tu nghiệp là hằng ngày phải chăm chỉ học tập cho y thuật ngày càng giỏi. Hải Thượng Lãn Ông cho rằng người thầy thuốc chân chính không những phải có kiến thức vững vàng về chuyên môn mà còn phải tự xác định cho mình những quy chuẩn đạo đức đúng đắn, đó là ý nghĩa đích thực của đạo làm thuốc và cũng là bí quyết xây dựng và phát triển nghề y.
Ông viết: "Suy nghĩ thật sâu sắc, tôi hiểu rằng thầy thuốc là bảo vệ sinh mạng cho con người, sống chết một tay mình nắm, họa phúc trong tay mình giữ. Thế thì đâu có thể kiến thức không đầy đủ, đức hạnh không trọn vẹn, tâm hồn không rộng lớn, hành vi không thận trọng mà dám liều lĩnh học đòi cái nghề cao quý đó chăng".[10] Trong cuốn “Y huấn cách ngôn”, Hải Thượng Lãn Ông đã đưa ra chín điều dạy cho những người thầy thuốc. Ông viết: "Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu mạng sống cho người bệnh làm nhiệm vụ của mình, không nên cầu lợi, kể công". [10] Ông đã chỉ ra những đức tính người thầy thuốc cần có là yêu nghề, yêu người, nhân từ, khiêm tốn, lạc quan, thận trọng, biết cách đối xử.
Phẩm chất nhân ái, yêu thương con người của người thầy thuốc được ông đặc biệt nhấn mạnh: Không nên thấy người giàu sang quyền quý thì hết lòng phục vụ, thấy người nghèo khổ, tàn tật thì thờ ơ; Khi người thầy thuốc khoanh tay trước một bệnh 8 hiểm nghèo thì đó là người thầy thuốc chỉ nghĩ đến lợi danh. Người thầy thuốc phải có trí tuệ đầy đủ, đó là yêu cầu của nghề nghiệp, vì trí là cơ sở để thực hiện điều nhân. [10] Từ đó ông đã khái quát tư chất đích thực của người thầy thuốc là Nhân, Minh, Trí, Đức, Thành, Lượng, Khiêm, Cần. Có thể thấy Hải Thượng Lãn Ông đã nêu lên những chuẩn mực sâu sắc về đạo nghề nghiệp, mãi đến đời sau vẫn còn giá trị.