Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO TRẺ 4-5 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về hoạt động giáo dục thể chất Thể chất Theo cuốn sách “Giáo trình lí luận và phương pháp thể dục thể thao” của hai tác giả Nguyễn Toán và Nguyễn Sĩ Hà (2004) khoa giáo dục thể chất trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh thì thể chất chính là chất lượng thân thể con người bao gồm thể hình, khả năng chức năng và khả năng thích ứng được hình thành và phát triển do bẩm sinh và điều kiện sống Phát triển thể chất Nói về phát triển thể chất có nhiều công trình nghiên cứu, cũng như sách của một số tác giả đã đề cập tới cụ thể như sau: Phát triển thể chất “là một quá trình hình thành, biến đổi tuần tự theo quy luật trong cuộc đời từng người (tương đối lâu dài) về hình thái, chức năng và cả những tố chất thể lực và năng lực thể chất. Chúng được hình thành “trên” và “trong” cái nền thân thể ấy” (Nguyễn Toán và Nguyễn Sĩ Hà , 2004).
“Phát triển thể chất là quá quá trình hình thành và thay đổi hình thái, chức năng sinh học của cơ thể con người dưới ảnh hưởng của điều kiện sống và môi trường giáo dục” (Đặng Hồng Phượng, 2008). Tác giả cũng giải thích thêm: Theo nghĩa rộng phát triển thể chất là là mức độ phát triển của các tố chất thể lực như phản xạ của cơ thể, mức độ linh hoạt, thích nghi với môi trường, sự mềm dẻo và sức mạnh của toàn thân. Theo nghĩa hẹp Phát triển thể chất là mức độ phát triển của cơ thể như chiều cao, cân nặng, chu vi vòng ngực, vòng đầu, vòng tay,. Phát triển thể chất phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như yếu tố bẩm sinh di truyền, yếu tố môi trường và hoạt động của con người.
Tóm lại có thể nói là Phát triển thể chất: là sự thay đổi, sự phát triển về kích thước, chức năng cơ thể diễn ra trong suốt cuộc đời của một con người dưới sự ảnh hưởng của điều kiện sống và môi trường giáo dục. Giáo dục thể chất 13 Trước khi định nghĩa giáo dục thể chất, ta đi vào định nghĩa về “giáo dục” như sau: “Giáo dục (theo nghĩa rộng) là hoạt động giáo dục tổng thể được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người” (Trần Thị Hương, Nguyễn Đức Danh, Hồ Văn Liên và Ngô Đình Qua, 2017) Với ý nghĩa trên giáo dục bao gồm giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thể chất, giáo dục thẫm mỹ, giáo dục lao động và hướng nghiệp do nhà trường tổ chức. Theo hai cuốn sách Giáo dục học đại cương (Trần Thị Hương, Nguyễn Đức Danh, Hồ Văn Liên và Ngô Đình Qua, 2017) và cuốn Giáo trình giáo dục học tập 1 (Trần Thị Tuyết Oanh, 2006) giáo dục được hiểu như sau: Giáo dục (theo nghĩa rộng) bao gồm giáo dục theo nghĩa hẹp và dạy học. Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành và phát triển phẩm chất của nhân cách cho người được giáo dục bao gồm thế giới quan khoa học, tư tưởng chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, thể chất, lao động, những hành vi và thói quen ứng xử đúng đắn của cá nhân trong các mối quan hệ của họ.
Dạy học là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm giúp người học lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học, kĩ năng, kĩ xảo, phát triển năng lực nhận thức và hành động trên cơ sở đó hình thành thế giới quan khoa học, phẩm chất đạo đức nói riêng và nhân cách nói chung. Cũng giống như phát triển thể chất, khi nói về giáo dục thể chất cũng có nhiều công trình nghiên cứu, cũng như sách của một số tác giả đã đề cập tới cụ thể như sau: “Giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con người” (Nguyễn Toán và Nguyễn Sĩ Hà , 2004). Theo Luật Thể dục, thể thao năm 2006, “Giáo dục thể chất là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện” (Quốc hội, 2006) GDTC là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. 14 Từ những định nghĩa trên tác giả rút ra kết luận về giáo dục thể chất như sau: Giáo dục thể chất là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục, được tổ chức có mục đích có kế hoạch của chủ thể giáo dục đến người học để truyền thụ những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm phát triển các tố chất thể lực và tăng cường sức khỏe và đạt mục tiêu giáo dục thể chất nói riêng và mục tiêu giáo dục nói chung.
Hoạt động giáo dục thể chất Xét ở góc độ tâm lí học, “Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người (chủ thể)” (Huỳnh Văn Sơn, Lê Thị Hân, Trần Thị Thu Mai và Nguyễn Thị Uyên Thy, 2012) Từ khái niệm trên ta thấy có 2 quá trình song song nhau đó là: - Quá trình đối tượng hóa (xuất tâm). - Quá trình chủ thể hóa (nhập tâm). Hoạt động có các đặc điểm sau: Tính đối tượng, tính chủ thể, tính mục đích và hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp. Xét ở góc độ giáo dục học, hoạt động giáo dục tổng thể bao gồm hai hoạt động giáo dục bộ phận đó là hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp).
Hoạt động giáo dục tổng thể cũng như hoạt động giáo dục bộ phận đều được tạo thành từ các nhân tố: chủ thể giáo dục, đối tượng giáo dục, mục đích nhiệm vụ giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức giáo dục và kết quả giáo dục. Các nhân tố của hoạt động giáo dục có mối quan hệ thống nhất, tác động biện chứng với nhau đồng thời nó còn quan hệ biện chứng, mật thiết với môi trường bên ngoài và môi trường bên trong, khi một nhân tố thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của các nhân tố khác (Trần Thị Hương, Nguyễn Đức Danh, Hồ Văn Liên và Ngô Đình Qua, 2017) Từ những phân tích trên có thể hiểu hoạt động giáo dục thể chất là hoạt động giáo dục được tổ chức một cách có mục đích có kế hoạch của chủ thể giáo dục đến người học thông qua các phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức giáo dục, giúp người học phát triển các tố chất thể lực và tăng cường sức khỏe và đạt mục tiêu giáo dục thể chất. Hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ mầm non Để làm rõ khái niệm hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ mầm non ta cần làm rõ thế nào là hoạt động, hoạt động giáo dục; thế nào là trẻ mầm non và giáo dục thể chất 15 cho trẻ mầm non. Ở những khái niệm trên ta đã tìm hiểu thế nào là hoạt động, hoạt động giáo dục, hoạt động giáo dục thể chất, vậy ta chỉ cần làm rõ thêm về những khái niệm sau đây: Trẻ mầm non Theo văn bản hợp nhất 04/VBHN-BGDĐT ngày 24 tháng 12 năm 2015 về quyết định ban hành Điều lệ trường mầm non thì trẻ mầm non có thể được hiểu là trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi được nhận vào nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.
Giáo dục thể chất cho trẻ mầm non Theo cuốn sách Giáo trình lí luận và phương pháp giáp dục thể chất cho trẻ em lứa tuổi mầm non năm 2008 của Đặng Hồng Phượng thì giáo dục thể chất cho trẻ mầm non được hiểu là quá trính tổ chức hoạt động vận động cho trẻ (theo nghĩa hẹp), là quá trính tác động nhiều mặt vào cơ thể trẻ, tổ chức vận động, sinh hoạt cho trẻ hợp lí nhằm giúp cơ thể trẻ phát triển tốt, tăng cường sức khỏe tiến tới phát triển toàm diện cho trẻ (theo nghĩa rộng) (Đặng Hồng Phượng, 2008) Hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ mầm non Từ những khái niệm thành phần trên ta có thể nói hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ mầm non là hoạt động giáo dục được tổ chức một cách có mục đích có kế hoạch của chủ thể giáo dục đến trẻ mầm non thông qua các phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức giáo dục, giúp trẻ mầm non phát triển các tố chất thể lực, tăng cường sức khỏe và đạt mục tiêu giáo dục thể chất cho trẻ mầm non. Khái niệm về quản lí hoạt động giáo dục thể chất Khái niệm quản lí Có rất nhiềm quan niệm khác nhau về quản lí, có thể trích dẫn bằng một số khái niệm chủ yếu sau: “Quản lí là nhằm phối hợp, nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành thành tựu của xã hội” (Trần Kiểm, 2008) “Quản lí là những tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lí nhằm đạt mục đích dự kiến” (Nguyễn Hữu Hải, 2014) “Quản lí là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến đối tượng bị quản lí trong tổ chức để vận hành tồ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” (Nguyễn Ngọc Quang, 2017) 16 Từ những khái niệm nêu trên ta nhận thấy quản lí bao gồm 3 yếu tố chính đó là: chủ thể quản lí, đối tượng quản lí, mục tiêu quản lí, có thể thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố bằng sơ đồ 1.1 sau đây: Công cụ quản lí Chủ thể Đối tượng Mục tiêu quản lí quản lí quản lí Phương pháp quản lí Sơ đồ 1. Mô tả khái niệm quản lí Tác giả đồng tình với khái niệm quản lí như sau: Quản lí là những tác động có kế hoạch, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm đạt mục tiêu quản lí (Nguyễn Ngọc Quang, 2017). Khái niệm quản lí giáo dục Cũng giống như khái niệm quản lí, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về quản lí giáo dục.