Mở đầu: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại trƣờng trung học cơ sở Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại các trƣờng trung học cơ sở Thị xã Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại các trƣờng trung học cơ sở Thị xã Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh * Kết luận và kiến nghị 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TẠI TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Trong sự phát triển nền giáo dục ở mỗi quốc gia, vấn đề giáo dục đạo đức luôn đƣợc mọi tầng lớp, mọi giai cấp, mọi thời đại quan tâm. Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và khoa học công nghệ đã góp phần giải quyết những vấn đề toàn cầu, đƣa xã hội loài ngƣời phát triển.
Tuy nhiên, để xã hội loài ngƣời hƣớng tới sự tiến bộ, bình đẳng và hƣớng tới chân, thiện, mỹ thì yếu tố giáo dục đạo đức con ngƣời đƣợc coi là cốt lõi trong sự phát triển đó. Vấn đề đạo đức của thế hệ trẻ không chỉ là vấn đề của một đất nƣớc, mà là vấn đề mang tính toàn cầu của thời đại, là điều kiện quan trọng để bảo vệ sự sống còn và tƣơng lai của loài ngƣời. Chính vì vậy, trong lịch sử rất nhiều ngƣời quan tâm nghiên cứu đạo đức, nó xem nhƣ là động lực tinh thần để hoàn thiện nhân cách con ngƣời trong từng giai đoạn lịch sử nhất định của mỗi quốc gia, dân tộc. Các nhà tƣ tƣởng, triết học của xã hội phƣơng Đông lẫn phƣơng Tây đều coi trọng vấn đề giáo dục đạo đức.
Ở Phƣơng Đông thời cổ đại, Khổng Tử (551- 479 TCN), nhà hiền triết Trung Hoa cổ (551- 479 TCN) đã đƣa ra học thuyết “Nhân - Lễ - Chính danh”. Trong đó, “Nhân” (Lòng thƣơng ngƣời) là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con ngƣời. Đứng trên lập trƣờng coi trọng giáo dục đạo đức, ông cha ta đã đƣa ra câu nói nổi tiếng “Tiên học lễ, hậu học văn”, cho đến ngày nay lời dạy này vẫn còn nguyên giá trị đối với giáo dục nƣớc ta và nhiều nền giáo dục trên thế giới [9, tr. Ở Phƣơng Tây, Nhà triết học Socrates (470-399 TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau.
Có đƣợc đạo đức là nhờ sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức. Nhà triết học Aristotle (384 -322 TCN) là một trong ba trụ cột của văn minh Hi Lạp cổ đại, là những ngƣời đặt nền móng cho triết học phƣơng Tây cho rằng thƣợng đế không áp đặt để có công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên đƣợc con ngƣời hoàn thiện trong quan hệ đạo đức. Ông khẳng định: “Trƣớc tiên học đạo đức rồi sau đó học tri thức, không có đạo đức, tri thức khó thành đạt” [9, tr. Từ thời cổ đại Hi Lạp, Đêmôcrit là ngƣời đầu tiên đƣa phạm trù nghĩa vụ vào đạo đức học.
Ông cho rằng ý thức nghĩa vụ là động cơ sâu kín bên trong con ngƣời, 7 là động lực thúc đẩy con ngƣời hành động. Nhà triết học cổ đại Aristote (384-322 TCN) nhà bác học Hy Lạp thời thƣợng cổ đã yêu cầu: Trƣớc tiên học đạo đức rồi sau đó học tri thức. Không có đạo đức, tri thức sẽ khó thành đạt. Xixêrô thì nói: Triết lý về đạo đức là sự chuẩn bị tƣ duy để tiếp nhận 5 hạt giống trí tuệ.
[Error! Reference source not found. Thời Hy Lạp - La ã cổ đại, nhà triết học Socrate (469-399 TCN) cho rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện. Bản tính con ngƣời vốn thiện, nếu tính thiện ấy đƣợc lan tỏa thì con ngƣời sẽ có hạnh phúc. Muốn xác định đƣợc chuẩn mục đạo đức, theo Socrate, con ngƣời phải tự ý thức, phải bằng nhận thức lý tính với phƣơng pháp khoa học nhận thức [9, tr.
Ở Liên Xô, nhà giáo dục học Makarenco.C đại diện cho nền giáo dục đƣơng đại, đã nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục đạo đức và các biện pháp giáo dục đúng đắn nhƣ sự nêu gƣơng, “giáo dục trong tập thể và giáo dục bằng tập thể” trong tác phẩm “Bài ca sƣ phạm”, các vấn đề giáo dục ngƣời công dân (giáo dục trẻ em phạm pháp và không gia đình). Ông kết luận “Nhiệm vụ giáo dục của chúng ta nói tóm lại là giáo dục tập thể”. Điều đó có nghĩa là hình thành nhận thức, tình cảm, hành vi, thói quen tập thể; là góp phần tạo ra nhân sinh quan XHCN, bộ mặt đạo đức chủ yếu của con ngƣời mới XHCN để phân biệt với con ngƣời của giai cấp bóc lột- con ngƣời ích kỷ, cá nhân [18, tr. Giáo dục đạo đức cho học sinh ở Mỹ: Mục tiêu giáo dục đạo đức HS ở Mỹ là cung cấp cho học sinh những kiến thức và cơ hội thực hành, vận dụng để xây dựng đƣợc một nền tảng tính cách bền vững, hài hòa dựa trên ba mục tiêu lớn của cuộc đời.
Giáo dục học sinh trở thành những công dân có trách nhiệm, hiểu biết và có thể tham gia hiệu quả vào đời sống chính trị, xã hội của đất nƣớc. Nội dung giáo dục đạo đức HS ở Mỹ bao gồm 6 trụ cột: Trụ cột thứ nhất: Sự tin cậy; Trụ cột thứ hai: Tôn trọng; Trụ cột thứ ba: Tinh thần trách nhiệm; Trụ cột thứ tƣ: Công bằng; Trụ cột thứ năm: Quan tâm; Trụ cột thứ sáu: Bổn phận công dân. Phƣơng pháp giáo dục đạo đức HS ở Mỹ bao gồm các cách cơ bản nhƣ: Nêu gƣơng; Giải thích; Cổ vũ, khích lệ; Bảo đảm môi trƣờng đạo đức; Trải nghiệm; Kỳ vọng vào sự ƣu tú. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin: Những quy tắc, chuẩn mực đạo đức đƣợc xã hội thừa nhận, đó là ý thức xã hội.
Nó chi phối đời sống đạo đức của các cá nhân trong xã hội. Ý thức xã hội đƣợc các cá nhân tiếp nhận chuyển hóa thành ý thức cá nhân, đƣợc cá thể hóa và thể hiện ra thông qua hành vi đạo đức, dƣới những biểu hiện: cảm xúc, tình cảm, động cơ, ham muốn, niềm tin, hành động đạo đức… [37, tr. Giáo dục đạo đức cho học sinh ở các nƣớc Châu Á. Giáo dục đạo đức HS ở Nhật: Mục đích của giáo dục đạo đức học sinh ở Nhật là bồi dƣỡng tinh thần tôn trọng nhân phẩm con ngƣời, trân trọng cuộc sống; Nỗ lực kế thừa và phát triển văn hóa truyền thống, tạo dựng một nền văn hóa phong phú về mặt cá nhân; Nỗ lực hình thành và phát triển xã hội và quốc gia dân chủ; Đóng góp vào việc xây dựng một cộng đồng thế giới hòa bình; Có khả năng ra quyết định độc lập; Bồi dƣỡng ý thức đạo đức.
Nội dung giáo dục bao gồm: Sự đúng mực; Sự chuyên cần; Lòng dũng cảm; Sự chân thành; Tự do và luật lệ, Tự hoàn thiện; Phép lịch sự, sự quan tâm và lòng tốt; Biết ơn và kính trọng, khiêm tốn; Tôn trọng thiên nhiên và cuộc sống; Tính cao thƣợng; Công bằng; 6 Trách nhiệm. Phƣơng pháp chính để giáo dục đạo đức cho học sinh ở Nhật là: Giáo dục đạo đức với tƣ cách một môn học độc lập; Giáo dục đạo đức qua các môn học trong nhà trƣờng; Giáo dục đạo đức qua các hoạt động đặc biệt; Giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động hàng ngày. Giáo dục đạo đức họ học sinh ở Thái Lan: Mục tiêu của giáo dục đạo đức học sinh ở Thái Lan là giúp học sinh nhận thức đƣợc điều tốt, quan tâm đến điều tốt, làm điều tốt. Nội dung bao gồm: Đáng tin cậy - trung thực và nói sự thật; Tôn trọng - lịch sự và nhã nhặn; Trách nhiệm; Tính công bằng; Sự chu đáo - tốt bụng, lòng thƣơng; Ý thức công dân.
Nhà trƣờng Thái Lan đã vận dụng một số phƣơng pháp để giáo dục đạo đức học sinh nhƣ: Phƣơng pháp tƣơng tác; Phƣơng pháp học tập hợp tác; Phƣơng pháp giáo dục truyền thống; Phƣơng pháp thảo luận nhóm; Phƣơng pháp sắm vai; Phƣơng pháp học tập từ kinh nghiệm. Theo kết quả nghiên cứu tổng quan các tài liệu nƣớc ngoài cho thấy, hầu hết các nƣớc đều có những chiến lƣợc và triết lý trong giáo dục đạo đức. Do đó, vấn đề giáo dục đạo đức đƣợc hầu hết các nƣớc trên thế giới coi trọng, nhƣng mô hình giáo dục, quản lý hoạt động giáo dục ở mỗi quốc gia lại có sự khác nhau. Điều này tùy thuộc vào văn hóa, đặc điểm kinh tế, xã hội và hệ giá trị và triết lý giáo dục ở mỗi quốc gia trong những bối cảnh nhất định.
Hoạt động quản lý giáo dục cho học sinh thể hiện triết lý, mục tiêu, nội dung và phƣơng pháp giáo dục. Giáo dục đạo đức cho học sinh đƣợc thực hiện qua nhiều con đƣờng, cách thức, phƣơng pháp cụ thể. Trong đó ở Việt Nam luôn coi giáo dục đạo đức cho học sinh phải có sự kết hợp giữa gia đình, nhà trƣờng và xã hội chứ không có nhà trƣờng với có chắc năng giáo dục này. Từ thực tiễn về sự phát triển con ngƣời cho thấy, việc giáo dục, uấn nắn đối với học sinh cần phải có phƣơng pháp giáo dục, phƣơng pháp tác động tâm lý và có nội dung phù hợp với từng lứa tuổi, dân tộc và tập quán văn hóa sinh sống của học sinh.
Do đó không có mô hình chung nhất áp dụng cho tất cả học sinh, ngoài những triết lý và mục tiêu chung. Qua những kết quả nghiên cứu này sẽ là cơ sở lý luận quan trọng để tác giả vận dụng vào điều kiện thực tiễn ở Việt Nam nói chung và ở các trƣờng THCS thị xã Trảng Bàng nói riêng. Qua đó tiếp thu có chọn lọc những mô hình giáo dục đạo đức phù hợp với văn hóa và con ngƣời Việt Nam. Các nghiên cức trong nước Giáo dục đạo đức có vai trò và vị trí rất quan trọng trong giáo dục hình thành nhân cách con ngƣời.
Giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ đƣợc xác định là nhiệm vụ quan trọng, lâu dài, mang tính chiến lƣợc trong phát triển giáo dục nói riêng và phát triển đất nƣớc nói chung. Giáo dục đạo đức, lối sống không chỉ bồi dƣỡng nhận thức về các chuẩn mực xã hội mà còn góp phần định hình, phát huy những phẩm chất cần thiết của nhân cách con ngƣời.