phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến đƣợc trình bày theo 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo hƣớng phát triển năng lực học sinh ở trƣờng trung học phổ thông. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trƣờng Trung học phổ thông Lý Tự Trọng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định theo hƣớng phát triển năng lực học sinh. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trƣờng Trung học phổ thông Lý Tự Trọng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định theo hƣớng phát triển năng lực học sinh. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Bất cứ một quốc gia nào trên thế giới muốn phát triển không ngừng thì GD đều hƣớng tới mục tiêu GD toàn diện HS đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội, phát triển con ngƣời theo phƣơng thức kết hợp nhà trƣờng và xã hội bằng các hình thức GD ngoài giờ học trên lớp và ngoài nhà trƣờng; quản lý các hoạt động này đƣợc xem là rất quan trọng trong nhà trƣờng phổ thông thể hiện rõ qua các quan điểm từ trƣớc đến nay của các nhà GD. Rabơle (1494-1553) là một trong những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp và tƣ tƣởng GD thời kỳ văn hóa Phục hƣng. Ông đòi hỏi việc GD phải bao hàm các nội dung: “Trí dục, đạo đức, thể chất và thẩm mỹ và đã có sáng kiến tổ chức các hình thức GD nhƣ ngoài việc học ở lớp và ở nhà, còn có các buổi tham quan các xƣởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghệ sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày”[29-tr39].S Makarenco (1888-1939) vừa là nhà văn, vừa là nhà GD Xô Viết lỗi lạc đã nói về tầm quan trọng của công tác GD HS ngoài giờ lên lớp: “Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề GD, phƣơng pháp GD không thể hạn chế trong các vấn đề GD, lại càng không thể để cho quá trình GD chỉ thực hiện trên lớp học, mà đáng ra phải là trên mỗi mét vuông của đất nƣớc chúng ta.
Nghĩa là trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không đƣợc quan niệm rằng công tác GD chỉ đƣợc tiến hành trong lớp. Công tác GD chỉ đạo toàn bộ cuộc sống của trẻ”[1- tr 63]. Mác, nhà tƣ tƣởng vĩ đại của giai cấp công nhân đã khẳng định: “Học tập kết hợp với lao động sản xuất là phƣơng pháp tổng quát của sản xuất xã hội và là phƣơng pháp duy nhất để hình thành con ngƣời toàn diện. Lao động tạo ra nhân cách con ngƣời.
Nhà trƣờng phải GD, đào tạo ra những con ngƣời lao động chân chính và có nhân cách tốt. Mục tiêu tổng quát của GD là phải phát triển con ngƣời toàn diện; đối với xã hội, phát triển con ngƣời toàn diện để phát triển kinh tế xã hội, đối với từng ngƣời - để có năng lực nghề nghiệp, để sống và đóng góp cho gia đình, cho cộng đồng…”[33- tr38]. Ngày nay, trong hệ thống GD ở các nƣớc trên thế giới, quản lý các HĐGD nằm ngoài chƣơng trình chính khóa thƣờng đƣợc gọi là: Hoạt động sau giờ học hoặc bên 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngoài lớp học - gọi chung là “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp”, đang đƣợc các nhà QLGD quan tâm vì đƣợc đánh giá là các hoạt động mang tính toàn diện và đạt hiệu quả GD cao. Đây là những HĐGD có chƣơng trình cụ thể có thể bắt đầu tiểu học đến các khối lớp ở THCS, THPT và cao đẳng, đại học bao gồm các hoạt động đa dạng ở nhiều lĩnh vực nhƣ học thuật, TDTT, xã hội, từ thiện, dịch vụ cộng đồng, các công việc tự nguyện, sở thích… đang đƣợc quản lý trong các nhà trƣờng theo các phƣơng thức khác nhau (tự nguyện hay bắt buộc) tùy vào cách thức tổ chức, nội dung chƣơng trình và tính chất của các hoạt động.
Trong các hoạt động này, HS chủ động tổ chức các hoạt động dƣới sự quản lý và tƣ vấn của các GV để hình thành kĩ năng sống và phát triển phẩm chất, PTNL HS. Theo quan niệm của Tổ chức văn hóa, Khoa học và GD của Liên Hiệp Quốc (UNESCO): Kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) kỹ năng sống là khả năng thể hiện và thực hiện năng lực tâm lý xã hội hay nói rõ hơn: “Năng lực tâm lý xã hội là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống. Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực trong tƣơng tác với ngƣời khác, với nền văn hóa và môi trƣờng xung quanh.
Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng về thể chất, tinh thần và xã hội. Kỹ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội này. Đó là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”. Định hƣớng năng lực đƣợc hình thành và phát triển rộng khắp tại Mỹ vào những năm 1970 trong phong trào đào tạo và GD các nhà GD và đào tạo nghề dựa trên việc thực hiện nhiệm vụ, gắn với một trào lƣu GD chủ trƣơng xác định mục tiêu GD bằng cách mô tả cụ thể để có thể đo lƣờng đƣợc những kiến thức, kỹ năng và thái độ mà HS cần phải đạt đƣợc sau khi kết thúc khóa học.
Các định hƣớng về năng lực đã phát triển một cách mạnh mẽ trên một nấc thang mới trong những năm 1990 với hàng loạt các tổ chức có tầm cỡ quốc gia ở Mỹ, Anh, Úc, New Zealand, xứ Wales. Các tiêu chuẩn năng lực đƣợc thúc đẩy và khuyến khích bởi những áp lực chính trị nhƣ là cách thức để chuẩn bị nguồn nhân lực cho nền kinh tế có tính cạnh tranh toàn cầu. Nó phát triển mạnh mẽ là do rất nhiều học giả và các nhà thực hành phát triển nguồn nhân lực xem hƣớng năng lực là cách thức có ảnh hƣởng mạnh mẽ nhất, đƣợc ủng hộ mạnh mẽ nhất để cân bằng GD, đào tạo và những đòi hỏi tại nơi làm việc và là “cách thức để chuẩn bị lực lƣợng lao động cho một nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu”[1- tr1], và “một câu trả lời mạnh mẽ đối với các vấn đề mà các tổ chức và cá nhân đang phải đối mặt trong thế kỷ thứ 21”[2-tr46]. Định hƣớng PTNL trong GD tập trung vào năng lực hành động, hƣớng tới những gì HS dự kiến phải làm đƣợc.
Nói cách khác đây là một chiến lƣợc tổ chức HĐGD, trong đó quá trình GD dựa trên năng lực thực. HS chứng minh mức độ hiểu 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biết, vận dụng kiến thức của mình thông qua khả năng thực hiện những hành động cụ thể. Đồng thời các nghiên cứu HĐGD NGLL đã chỉ ra rằng quá trình quản lý các HĐGD NGLL trong nhà trƣờng đã giúp các nhà QLGD có nhiều kinh nghiệm hơn trong các khâu lập kế hoạch, tổ chức triển khai thực hiện và kiểm tra giám sát, đánh giá; đặc biệt là khâu tổ chức các hoạt động này thông qua sự đa dạng của nó mà có thêm cơ hội mở rộng kiến thức cho chƣơng trình học chính thức trong ngày cũng nhƣ tăng cƣờng GD toàn diện HS. Một số các nghiên cứu khác cũng chứng minh đƣợc rằng HS và các nhà QLGD đã có một quan điểm tích cực hơn khi nhận thức đƣợc tác động tốt của HĐGD NGLL trong PTNL và phát triển phẩm chất cho HS.
Các nghiên cứu này còn cho thấy không chỉ tham gia vào các HĐGD NGLL mà để HS lựa chọn tham gia vào các loại hình hoạt động HĐGD NGLL phù hợp với đặc điểm bản thân, điều kiện đặc trƣng đặc thù của nhà trƣờng và địa phƣơng thì hiệu quả GD toàn diện sẽ tăng lên[3]. Trong nước Qua quá trình tìm hiểu lịch sử GD Việt Nam, về HĐGD NGLL đã đƣợc rất nhiều nhà GD nghiên cứu. Chủ tịch Hồ Chí Minh thƣờng xuyên nhắc nhở những ngƣời làm công tác GD phải luôn chú ý GD toàn diện cho HS, phải kết hợp chặt chẽ “học đi đôi với hành”, và trong thƣ gửi HS nhân dịp khai trƣờng tháng 9/1945 Bác viết: “…các em cũng nên, ngoài giờ học ở trƣờng, tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nƣớc”, trong thƣ gửi Hội nghị các cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc Bác có viết: “…trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trƣờng, trong xã hội chúng đều vui, đều học”[18-tr101].
Ở nƣớc ta những năm gần đây, HĐGD NGLL đƣợc Bộ GD&ĐT triển khai bằng chƣơng trình phân ban đại trà với tất cả các trƣờng THPT từ năm học 2006 - 2007 cho đến nay. Có thể nói HĐGD NGLL ở nƣớc ta trƣớc đây là HĐNK và hiện nay rộng hơn là HĐTNST; tuy nhiên hầu hết các HĐNK trƣớc đây đều mang tính tự phát, chƣa đƣợc phân cấp quản lý; do đó chƣa có mục tiêu rõ ràng, không nằm trong chƣơng trình chính thức, không có thời gian nhất định và không yêu cầu kiểm tra, đánh giá về chất lƣợng và hiệu quả hoạt động. Việc đƣa HĐGD NGLL vào chƣơng trình với mục tiêu GD cụ thể, có chƣơng trình và phân phối thời lƣợng cho các hoạt động đƣợc mang tên chủ đề từng tháng, có quy định ngƣời quản lý trong thành phần ban giám hiệu, có phân công ngƣời hƣớng dẫn tổ chức trực tiếp các hoạt động là GVCN. Đây là một trong những cải cách mới của GD Việt Nam, nhằm tạo điều kiện tốt nhất để GD HS một cách đầy đủ và toàn diện hơn.