Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý HĐGDKNS cho học sinh ở trường THPT. Chương 2: Thực trạng quản lý HĐGDKNS cho học sinh ở các trường THPT tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Chương 3: Một số biện pháp quản lý HĐGDKNS cho học sinh ở các trường THPT tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LU N VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT 1.
Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Ở các nước Phương Tây, KNS từ lâu đã được quan tâm từ những năm 90 của thế kỷ XX. Thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của Tổ chức Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) (2011), Trước tiên là chương trình “Giáo dục những giá trị sống”. Chương trình này được Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục Liên Hợp quốc (UNESCO), Ủy ban UNICEF của Tây Ban Nha, Hiệp hội hành tinh, tổ chức Brahma và các chuyên gia giáo dục UNICEF (New York) tham gia.
Cụ thể là chương trình “giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ và khái niệm KNS: “KNS là những kỹ năng tâm lý xã hội có liên quan đến tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống”. Đối với các kỹ năng sống của UNICEF là một phần của cách tiếp cận dựa trên quyền học tập. Trẻ em về cơ bản được hưởng nền giáo dục chất lượng, tôn trọng phẩm giá của chúng và mở rộng khả năng của chúng để sống một cuộc sống mà chúng coi trọng và thay đổi xã hội nơi chúng sống. Các trường học thân thiện với trẻ em thúc đẩy và nâng cao kỹ năng sống.
Cụ thể chia thành 3 nhóm như: nhóm kỹ năng xã hội, nhóm kỹ năng phát triển nhận thức, nhóm kỹ năng đối phó với cảm xúc và làm chủ bản thân. Khái niệm KNS lần đầu tiên được bàn đến trong Hiến chương Ottawa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (1997), về nâng cao sức khỏe, trong đó có nêu “các kỹ năng cá nhân” nhằm hỗ trợ kỹ năng cá nhân và xã hội thông qua cung cấp thông tin, giáo dục sức khỏe và nâng cao kỹ năng sống. KNS là một nhóm các năng lực tâm lý xã hội và kỹ năng giao tiếp giúp mọi người đưa ra quyết định sáng suốt, giải quyết vấn đề, suy nghĩ nghiêm túc và sáng tạo, giao tiếp hiệu quả, xây dựng mối quan hệ lành mạnh, đồng cảm với người khác và đối phó và quản lý cuộc sống của họ. Bằng cách đó, nó gia tăng các cơ hội, giúp người dân có khả năng lựa chọn những điều có lợi cho sức khỏe và môi trường.
8 Tài liệu bồi dưỡng về kỹ năng sống, giáo dục môi trường và các vấn đề xã hội của Bộ GD và ĐT (2018): Theo báo cáo đánh giá tổng quan về các chương trình GDKN của UNICEP Regionnail Office for South Asia (2005), nhận định các chương trình kỹ năng sống nhanh chóng phát triển ở khu vực Nam Á. Trong báo cáo có nhận định: các chương trình giáo dục kỹ năng sống ở đây không dựa trên các bằng chứng thực tế về nguy cơ và khó khăn trẻ phải đối mặt. KNS được cho rằng là những kỹ năng thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh. Đó là những kỹ năng mang tính tâm lý xã hội và những kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hằng ngày để tương tác một cách có hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống trong cuộc sống hằng ngày.
Với khái niệm KNS này nhưng với quan niệm hẹp hơn, nhấn mạnh sự học tập qua quá trình trải nghiệm của con người, qua sự tích lũy kinh nghiệm sống, cấu trúc kinh nghiệm và chủ động nắm lấy kinh nghiệm. Theo WHO (1999), có thể định nghĩa là các khả năng về thích nghi và hành vi tích cực giúp cho các cá nhân có thể đáp ứng hiệu quả các nhu cầu và thử thách trong cuộc sống hằng ngày. Theo quan niệm này, KNS được chia thành các nhóm: nhóm các kỹ năng nhận thức, nhóm các kỹ năng xã hội, nhóm các kỹ năng cảm xúc. Đối với UNESCO (2012), có quan niệm về KNS rộng hơn, dựa trên 4 trụ cột của việc học: “Học để biết – Học để làm – Học để là chính mình – Học để cùng chung sống” và trên cơ sở đó đã khái quát KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày.
Theo khái niệm này, KNS được phân loại thành: các kỹ năng cơ bản, các kỹ năng chung, các kỹ năng trong tình huống, ngữ cảnh, vấn đề cụ thể của đời sống xã hội,…Riêng tổ chức CASEL (Hoa Kỳ) xác định 5 nhóm năng lực xã hội và cảm xúc nòng cốt: nhận thức bản thân, nhận thức xã hội, quản lý bản thân, các kỹ năng quan hệ và kỹ năng ra quyết định. UNESCO (2005), Theo Winthrop Adkins, thuật ngữ “Kỹ năng sống” được sử dụng lần đầu tiên trong một chương trình đào tạo nghề thực hiện trong những năm 60 với tên gọi “The Adins Lì feskills Programme: Employabiliti Skills Series” những nhà tâm lý học thực hành coi đó như là khả năng quan trọng trong việc phát triển nhân cách. Mô hình giáo dục của Pháp thế kỷ XXI theo đề xuất của Edgard Morin (2012), là phải có một môn dạy thái độ thông cảm lẫn nhau giữa con người, môn học ấy tích hợp các nội dung đa dạng của các nền văn hóa, kiến thức khoa học nhân văn với nhau, 9 được lồng vào những bài thơ ca, văn chương, điện ảnh hay đơn giản là một bài diễn thuyết để góp phần xây dựng thái độ tích cực cho con người. Các nghiên cứu của Buthelezi và cộng sự (2000), Boler và Caroll (2003), Meyers (2011), cho thấy vai trò của giáo viên trong việc phát triển các năng lực tâm lý xã hội là rất quan trọng.
Giáo viên hỗ trợ và khuyến khích trẻ thông qua việc thúc đẩy trẻ tăng cường sự chủ động. Sự hỗ trợ này là đặc biệt cần thiết đối với trẻ bước vào tuổi thiếu niên. Tuy nhiên việc giảng dạy kỹ năng sống là một thách thức trong ngành giáo dục. Giáo viên ở hầu hết các trường học thường thích dành thời gian vào việc giảng dạy kiến thức và chuẩn bị cho học sinh tham gia các kỳ thi hơn là GDKNS cho học sinh.
Kolosoa (2010), chỉ ra tình trạng giáo viên tại các trường học thiếu năng lực giảng dạy kỹ năng sống, các chương trình giáo dục phải đối mặt với các thách thức phát sinh từ việc nhà trường không tuân thủ các nguyên tắc về chất lượng giáo dục. Chẳng hạn, các trường học không giới thiệu các biện pháp đo lường, đánh giá và cấp chứng chỉ về GDKNS, điều này làm giảm giá trị và sự ghi nhận về vị trí của GDKNS trong nhà trường. Tương tự, người học cũng không có các khóa học được đánh giá một cách nghiêm túc, vì thế họ cũng không dành sự quan tâm xứng đáng cho GDKNS. Tại Mỹ, từ những năm 1916, người Mỹ đã nhận ra rằng tri thức nhân loại là rất lớn nhưng để thực hành thành thạo và áp dụng, ứng dụng vào cuộc sống thì thường không như mong muốn.
Cho nên mỗi người dân lao động tại Mỹ phải đảm bảo thực hành và phải được các tổ chức công nhận là đã qua 13 kỹ năng bắt buộc. Triết lý giáo dục của Mỹ đầu thế kỷ XXI cũng cho rằng cần nâng cao các kỹ năng giao lưu qua nghe, nói, đọc, viết, cần phát triển khả năng suy ngẫm… Mặc dù GDKNS cho học sinh đã được nhiều nước quan tâm và đầu xuất phát từ quan niệm chung về KNS của WHO hoặc của UNESCO, nhưng quan niệm và nội dung GDKNS ở các nước không giống nhau. Quan niệm, nội dung GDKNS được triển khai ở các nước vừa mang tính chung, vừa thể hiện tính đặc trưng riêng của từng quốc gia. Từ những quan niệm trên cho thấy, khái niệm KNS ở các quốc gia đều dựa trên cơ sở khái niệm KNS của tổ chức UNESCO, WHO,…Tuy nhiên, ở các quốc gia khác nhau, do khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa…nên có thể có sự khác biệt trong việc hình thành khái niệm cũng như nội dung GDKNS.
Tình hình nghiên cứu trong nước Thuật ngữ KNS được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ chương trình UNICEF (1996), “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”. Thông qua thực hiện Chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và GDKNS ngày càng mở rộng. Trong giai đoạn đầu tiên, khái niệm KNS được giới thiệu bao gồm các kỹ năng cốt lõi như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định và kỹ năng đạt mục tiêu. Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nước đề cập đến vấn đề KNS nói chung.
Nghiên cứu về KNS và GDKNS ở Việt Nam đã có một công trình hợp tác với UNESCO giữa Viện chiến lược và Chương trình giáo dục triển khai năm 2003. Nghiên cứu này chỉ ra những cách hiểu khác nhau về KNS, chương trình, dự án, HĐGD dựa trên tiếp cận KNS và những kiến nghị thúc đẩy việc đưa GDKNS vào giáo dục Việt Nam. Nội dung GDKNS được các nhà trường thực sự quan tâm từ khi có Chỉ thị 40/2008/CT-BGDĐT của Bộ GD và ĐT phát động các nhà trường thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong đó nội dung thứ ba và thứ tư của phong trào chính là tổ chức GDKNS cho học sinh, sinh viên. Mục đích rèn luyện cho học sinh, sinh viên kỹ năng ứng xử thân thiện trong mọi tình huống; thói quen và kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng hoạt động xã hội; Giáo dục cho học sinh thói quen rèn luyện sức khỏe, ý thức tự bảo vệ bản thân; Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, ý thức chung sống thân thiện, giải quyết hợp lý các tình huống mâu thuẫn, xung đột; Có thái độ lên án và kiên quyết bài trừ mọi hành vi bạo lực.
Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và GDKNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình với hàng loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu cấp Bộ và các giáo trình, tài liệu tham khảo.