Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường thpt tại thành phố mỹ tho tỉnh tiền giang luận vănthạc sĩ 8140114

Nghiên cứu quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT tại Mỹ Tho, Tiền Giang, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2020

171
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quản Lý Giáo Dục Kỹ Năng Sống THPT Mỹ Tho

Giáo dục phổ thông đang đổi mới theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI: học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống. Việc hình thành và phát triển kỹ năng sống (KNS) trở thành một yêu cầu quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người hiện đại. Điều 2, Luật giáo dục (2019) nhấn mạnh mục tiêu giáo dục là phát triển toàn diện con người Việt Nam. Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI cũng chỉ ra định hướng đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành. Quyết định số 1501/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh. Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, trong mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông cũng đã nêu rõ. Công văn số 4026/BGDĐT-GDCTHSSV của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD và ĐT) về việc tăng cường giáo dục kỹ năng sống (GDKNS) cho học sinh chỉ rõ: Các cơ sở giáo dục tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua việc tiếp tục nâng cao chất lượng dạy học các môn học Đạo đức, Giáo dục công dân, tích hợp, lồng ghép trong các môn học liên quan; các hoạt động giáo dục (HĐGD) ngoài giờ chính khóa, hoạt động trải nghiệm và các hoạt động giáo dục khác đảm bảo thiết thực, hiệu quả, nội dung giáo dục dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp lứa tuổi.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh THPT

Kỹ năng sống đóng vai trò then chốt trong việc trang bị cho học sinh THPT khả năng thích ứng và thành công trong cuộc sống hiện đại. Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng làm việc nhóm, và kỹ năng tư duy phản biện là những yếu tố cần thiết để học sinh tự tin đối mặt với thách thức và xây dựng mối quan hệ tích cực. Việc giáo dục kỹ năng sống không chỉ giúp học sinh phát triển toàn diện mà còn góp phần vào sự phát triển của xã hội.

1.2. Vai Trò Của Quản Lý Giáo Dục Kỹ Năng Sống THPT

Quản lý giáo dục kỹ năng sống hiệu quả là yếu tố then chốt để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của chương trình giáo dục. Việc quản lý bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá các hoạt động giáo dục kỹ năng sống. Quản lý tốt sẽ giúp các trường THPT tại Mỹ Tho xây dựng môi trường học tập tích cực, khuyến khích sự tham gia của học sinh và tạo điều kiện cho các em phát triển tối đa tiềm năng của mình.

II. Thực Trạng Giáo Dục Kỹ Năng Sống THPT Tại Mỹ Tho Hiện Nay

Tiền Giang, liền kề TP.HCM, là nơi giao thoa giữa 2 địa bàn kinh tế lớn. Thành phố Mỹ Tho là đô thị loại I và là tỉnh lỵ của tỉnh Tiền Giang. Trong quy hoạch phát triển đến năm 2030, tỉnh Tiền Giang đầu tư xây dựng thành phố Mỹ Tho trở thành trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ của tỉnh. Để đáp ứng vị thế đó, đòi hỏi các trường trung học phổ thông (THPT) tại thành phố Mỹ Tho phải chú trọng nâng cao chất lượng trong quản lý, giảng dạy và học tập; tăng cường giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức, lối sống cho học sinh nhằm giáo dục toàn diện cho học sinh theo như Nghị quyết tỉnh Tiền Giang đã đề ra. Trong thực tế, tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, nhận thức của cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên về công tác GDKNS cho học sinh có nhiều chuyển biến rõ nét. Việc GDKNS cho học sinh ở các trường THPT được Hiệu trưởng quan tâm, chỉ đạo giáo viên tích hợp, lồng ghép GDKNS trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp (HĐNGLL), hoạt động của Đoàn thanh niên. Thông qua những hoạt động này, một số KNS của các em học sinh được hình thành.

2.1. Đánh Giá Nhận Thức Về Kỹ Năng Sống Của Giáo Viên Học Sinh

Nhận thức của giáo viên và học sinh về kỹ năng sống và sự cần thiết phải GDKNS có vai trò quan trọng trong việc triển khai hiệu quả chương trình giáo dục. Khảo sát cho thấy, nhận thức của CBQL, giáo viên về công tác GDKNS cho học sinh có nhiều chuyển biến rõ nét. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận nhà quản lý, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh (PHHS) chưa quan tâm đến công tác GDKNS. Cần có những biện pháp để nâng cao nhận thức của các bên liên quan về tầm quan trọng của kỹ năng sống.

2.2. Thực Trạng Tổ Chức Hoạt Động Giáo Dục Kỹ Năng Sống

Việc tổ chức HĐGDKNS trong các trường THPT tại Mỹ Tho còn nhiều hạn chế. Hiệu quả của công tác GDKNS cho các em học sinh tại thành phố Mỹ Tho chưa đạt hiệu quả cao so với yêu cầu đặt ra. Một số ít CBQL chỉ chú trọng dạy chữ cho học sinh mà chưa quan tâm đến dạy người, dạy KNS cho học sinh. Chưa chú trọng chỉ đạo giáo viên, các lực lượng phối hợp để làm tốt công tác này, việc đầu tư cơ sở vật chất (CSVC) để hoạt động giáo dục kỹ năng sống (HĐGDKNS) chưa được thực sự chú trọng.

2.3. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Giáo Dục Kỹ Năng Sống

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của giáo dục kỹ năng sống tại các trường THPT. Vẫn còn một bộ phận nhà quản lý, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh (PHHS) chưa quan tâm đến công tác GDKNS. Một số ít CBQL chỉ chú trọng dạy chữ cho học sinh mà chưa quan tâm đến dạy người, dạy KNS cho học sinh. Chưa chú trọng chỉ đạo giáo viên, các lực lượng phối hợp để làm tốt công tác này, việc đầu tư cơ sở vật chất (CSVC) để hoạt động giáo dục kỹ năng sống (HĐGDKNS) chưa được thực sự chú trọng.

III. Giải Pháp Quản Lý Giáo Dục Kỹ Năng Sống Hiệu Quả Tại Mỹ Tho

Để đáp ứng với mục tiêu giáo dục toàn diện, đào tạo thế hệ học sinh đáp ứng yêu cầu của thời đại ngày nay và đảm bảo thực hiện Nghị quyết của tỉnh Tiền Giang đề ra đòi hỏi các trường THPT trong thành phố Mỹ Tho phải tăng cường GDKNS cho học sinh. Đó cũng chính là lý do tác giả chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trƣờng THPT tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang".

3.1. Nâng Cao Nhận Thức Về Tầm Quan Trọng Của Kỹ Năng Sống

Cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của giáo viên, học sinh, phụ huynh về tầm quan trọng của kỹ năng sống. Tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn, diễn đàn để chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm về giáo dục kỹ năng sống. Xây dựng tài liệu truyền thông đa dạng, phù hợp với từng đối tượng để lan tỏa thông điệp về kỹ năng sống.

3.2. Xây Dựng Chương Trình Giáo Dục Kỹ Năng Sống Phù Hợp

Xây dựng chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT và điều kiện thực tế của địa phương. Chương trình cần đảm bảo tính khoa học, thực tiễn và dễ áp dụng. Lựa chọn nội dung kỹ năng sống phù hợp với nhu cầu của học sinh và yêu cầu của xã hội. Tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào các môn học và hoạt động ngoại khóa.

3.3. Tăng Cường Cơ Sở Vật Chất Cho Giáo Dục Kỹ Năng Sống

Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho giáo dục kỹ năng sống. Xây dựng phòng thực hành kỹ năng sống, trang bị các dụng cụ, vật liệu cần thiết cho các hoạt động trải nghiệm. Tạo môi trường học tập thân thiện, an toàn và khuyến khích sự sáng tạo của học sinh.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Giáo Dục Kỹ Năng Sống Tại Trường THPT

Việc quản lý HĐGDKNS các trường THPT tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang còn hạn chế: nhận thức chưa đúng mức trong một bộ phận CBQL, giáo viên vẫn còn xem trọng việc dạy chữ, chưa chú trọng đúng mức dạy làm người, nhất là việc GDKNS cho học sinh; chưa chú trọng việc xây dựng kế hoạch, mục tiêu và nội dung cần GDKNS cho học sinh. Đặc biệt là vấn đề kiểm tra, đánh giá kết quả GDKNS cho học sinh ở trường THPT.

4.1. Tổ Chức Các Hoạt Động Trải Nghiệm Thực Tế

Tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tế để học sinh vận dụng kiến thức và kỹ năng đã học vào giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Các hoạt động có thể là tham quan, dã ngoại, tình nguyện, thực tập tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất. Tạo cơ hội cho học sinh giao lưu, học hỏi kinh nghiệm từ những người thành công.

4.2. Xây Dựng Câu Lạc Bộ Kỹ Năng Sống

Thành lập các câu lạc bộ kỹ năng sống để học sinh có cơ hội giao lưu, học hỏi và rèn luyện các kỹ năng cần thiết. Các câu lạc bộ có thể tổ chức các buổi sinh hoạt, thảo luận, trò chơi, hoạt động nhóm để học sinh phát triển kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giải quyết vấn đề.

4.3. Mời Chuyên Gia Chia Sẻ Về Kỹ Năng Sống

Mời các chuyên gia về kỹ năng sống đến trường chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và truyền cảm hứng cho học sinh. Các chuyên gia có thể là nhà tâm lý học, nhà giáo dục, doanh nhân thành đạt. Tổ chức các buổi nói chuyện, hội thảo, workshop để học sinh có cơ hội đặt câu hỏi và trao đổi trực tiếp với các chuyên gia.

V. Đánh Giá Hiệu Quả Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh THPT

Để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của chương trình giáo dục kỹ năng sống, cần có hệ thống đánh giá khách quan và toàn diện. Đánh giá không chỉ tập trung vào kiến thức mà còn chú trọng đến thái độ, hành vi và kỹ năng thực hành của học sinh.

5.1. Sử Dụng Phương Pháp Đánh Giá Đa Dạng

Sử dụng các phương pháp đánh giá đa dạng như quan sát, phỏng vấn, bài tập tình huống, dự án, tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng. Lựa chọn phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu và nội dung của từng hoạt động giáo dục kỹ năng sống.

5.2. Xây Dựng Tiêu Chí Đánh Giá Rõ Ràng

Xây dựng tiêu chí đánh giá rõ ràng, cụ thể và dễ hiểu. Tiêu chí đánh giá cần phản ánh được các kỹ năng sống cần thiết cho học sinh THPT. Thông báo tiêu chí đánh giá cho học sinh trước khi thực hiện các hoạt động giáo dục kỹ năng sống.

5.3. Phản Hồi Kịp Thời Cho Học Sinh

Phản hồi kịp thời và chi tiết cho học sinh về kết quả đánh giá. Phản hồi cần tập trung vào những điểm mạnh, điểm yếu của học sinh và đưa ra những gợi ý để học sinh cải thiện kỹ năng sống.

VI. Kết Luận Và Tương Lai Giáo Dục Kỹ Năng Sống Tại Mỹ Tho

Việc tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT tại Mỹ Tho là một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết. Để thực hiện thành công nhiệm vụ này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Cần tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục kỹ năng sống, tăng cường cơ sở vật chất và nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Sự Phối Hợp Giữa Các Bên

Sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội là yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu quả của giáo dục kỹ năng sống. Nhà trường cần chủ động liên hệ với gia đình để trao đổi thông tin về tình hình học tập và rèn luyện của học sinh. Gia đình cần tạo điều kiện cho học sinh tham gia các hoạt động giáo dục kỹ năng sống.

6.2. Đổi Mới Phương Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống

Cần tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục kỹ năng sống theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh. Sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại như dạy học dự án, dạy học theo nhóm, dạy học trải nghiệm. Khuyến khích học sinh tự học, tự nghiên cứu và tự đánh giá.

05/06/2025
Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường thpt tại thành phố mỹ tho tỉnh tiền giang luận vănthạc sĩ 8140114

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý HĐGDKNS cho học sinh ở trường THPT. Chương 2: Thực trạng quản lý HĐGDKNS cho học sinh ở các trường THPT tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Chương 3: Một số biện pháp quản lý HĐGDKNS cho học sinh ở các trường THPT tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LU N VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT 1.

Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Ở các nước Phương Tây, KNS từ lâu đã được quan tâm từ những năm 90 của thế kỷ XX. Thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của Tổ chức Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) (2011), Trước tiên là chương trình “Giáo dục những giá trị sống”. Chương trình này được Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục Liên Hợp quốc (UNESCO), Ủy ban UNICEF của Tây Ban Nha, Hiệp hội hành tinh, tổ chức Brahma và các chuyên gia giáo dục UNICEF (New York) tham gia.

Cụ thể là chương trình “giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ và khái niệm KNS: “KNS là những kỹ năng tâm lý xã hội có liên quan đến tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống”. Đối với các kỹ năng sống của UNICEF là một phần của cách tiếp cận dựa trên quyền học tập. Trẻ em về cơ bản được hưởng nền giáo dục chất lượng, tôn trọng phẩm giá của chúng và mở rộng khả năng của chúng để sống một cuộc sống mà chúng coi trọng và thay đổi xã hội nơi chúng sống. Các trường học thân thiện với trẻ em thúc đẩy và nâng cao kỹ năng sống.

Cụ thể chia thành 3 nhóm như: nhóm kỹ năng xã hội, nhóm kỹ năng phát triển nhận thức, nhóm kỹ năng đối phó với cảm xúc và làm chủ bản thân. Khái niệm KNS lần đầu tiên được bàn đến trong Hiến chương Ottawa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (1997), về nâng cao sức khỏe, trong đó có nêu “các kỹ năng cá nhân” nhằm hỗ trợ kỹ năng cá nhân và xã hội thông qua cung cấp thông tin, giáo dục sức khỏe và nâng cao kỹ năng sống. KNS là một nhóm các năng lực tâm lý xã hội và kỹ năng giao tiếp giúp mọi người đưa ra quyết định sáng suốt, giải quyết vấn đề, suy nghĩ nghiêm túc và sáng tạo, giao tiếp hiệu quả, xây dựng mối quan hệ lành mạnh, đồng cảm với người khác và đối phó và quản lý cuộc sống của họ. Bằng cách đó, nó gia tăng các cơ hội, giúp người dân có khả năng lựa chọn những điều có lợi cho sức khỏe và môi trường.

8 Tài liệu bồi dưỡng về kỹ năng sống, giáo dục môi trường và các vấn đề xã hội của Bộ GD và ĐT (2018): Theo báo cáo đánh giá tổng quan về các chương trình GDKN của UNICEP Regionnail Office for South Asia (2005), nhận định các chương trình kỹ năng sống nhanh chóng phát triển ở khu vực Nam Á. Trong báo cáo có nhận định: các chương trình giáo dục kỹ năng sống ở đây không dựa trên các bằng chứng thực tế về nguy cơ và khó khăn trẻ phải đối mặt. KNS được cho rằng là những kỹ năng thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh. Đó là những kỹ năng mang tính tâm lý xã hội và những kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hằng ngày để tương tác một cách có hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống trong cuộc sống hằng ngày.

Với khái niệm KNS này nhưng với quan niệm hẹp hơn, nhấn mạnh sự học tập qua quá trình trải nghiệm của con người, qua sự tích lũy kinh nghiệm sống, cấu trúc kinh nghiệm và chủ động nắm lấy kinh nghiệm. Theo WHO (1999), có thể định nghĩa là các khả năng về thích nghi và hành vi tích cực giúp cho các cá nhân có thể đáp ứng hiệu quả các nhu cầu và thử thách trong cuộc sống hằng ngày. Theo quan niệm này, KNS được chia thành các nhóm: nhóm các kỹ năng nhận thức, nhóm các kỹ năng xã hội, nhóm các kỹ năng cảm xúc. Đối với UNESCO (2012), có quan niệm về KNS rộng hơn, dựa trên 4 trụ cột của việc học: “Học để biết – Học để làm – Học để là chính mình – Học để cùng chung sống” và trên cơ sở đó đã khái quát KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày.

Theo khái niệm này, KNS được phân loại thành: các kỹ năng cơ bản, các kỹ năng chung, các kỹ năng trong tình huống, ngữ cảnh, vấn đề cụ thể của đời sống xã hội,…Riêng tổ chức CASEL (Hoa Kỳ) xác định 5 nhóm năng lực xã hội và cảm xúc nòng cốt: nhận thức bản thân, nhận thức xã hội, quản lý bản thân, các kỹ năng quan hệ và kỹ năng ra quyết định. UNESCO (2005), Theo Winthrop Adkins, thuật ngữ “Kỹ năng sống” được sử dụng lần đầu tiên trong một chương trình đào tạo nghề thực hiện trong những năm 60 với tên gọi “The Adins Lì feskills Programme: Employabiliti Skills Series” những nhà tâm lý học thực hành coi đó như là khả năng quan trọng trong việc phát triển nhân cách. Mô hình giáo dục của Pháp thế kỷ XXI theo đề xuất của Edgard Morin (2012), là phải có một môn dạy thái độ thông cảm lẫn nhau giữa con người, môn học ấy tích hợp các nội dung đa dạng của các nền văn hóa, kiến thức khoa học nhân văn với nhau, 9 được lồng vào những bài thơ ca, văn chương, điện ảnh hay đơn giản là một bài diễn thuyết để góp phần xây dựng thái độ tích cực cho con người. Các nghiên cứu của Buthelezi và cộng sự (2000), Boler và Caroll (2003), Meyers (2011), cho thấy vai trò của giáo viên trong việc phát triển các năng lực tâm lý xã hội là rất quan trọng.

Giáo viên hỗ trợ và khuyến khích trẻ thông qua việc thúc đẩy trẻ tăng cường sự chủ động. Sự hỗ trợ này là đặc biệt cần thiết đối với trẻ bước vào tuổi thiếu niên. Tuy nhiên việc giảng dạy kỹ năng sống là một thách thức trong ngành giáo dục. Giáo viên ở hầu hết các trường học thường thích dành thời gian vào việc giảng dạy kiến thức và chuẩn bị cho học sinh tham gia các kỳ thi hơn là GDKNS cho học sinh.

Kolosoa (2010), chỉ ra tình trạng giáo viên tại các trường học thiếu năng lực giảng dạy kỹ năng sống, các chương trình giáo dục phải đối mặt với các thách thức phát sinh từ việc nhà trường không tuân thủ các nguyên tắc về chất lượng giáo dục. Chẳng hạn, các trường học không giới thiệu các biện pháp đo lường, đánh giá và cấp chứng chỉ về GDKNS, điều này làm giảm giá trị và sự ghi nhận về vị trí của GDKNS trong nhà trường. Tương tự, người học cũng không có các khóa học được đánh giá một cách nghiêm túc, vì thế họ cũng không dành sự quan tâm xứng đáng cho GDKNS. Tại Mỹ, từ những năm 1916, người Mỹ đã nhận ra rằng tri thức nhân loại là rất lớn nhưng để thực hành thành thạo và áp dụng, ứng dụng vào cuộc sống thì thường không như mong muốn.

Cho nên mỗi người dân lao động tại Mỹ phải đảm bảo thực hành và phải được các tổ chức công nhận là đã qua 13 kỹ năng bắt buộc. Triết lý giáo dục của Mỹ đầu thế kỷ XXI cũng cho rằng cần nâng cao các kỹ năng giao lưu qua nghe, nói, đọc, viết, cần phát triển khả năng suy ngẫm… Mặc dù GDKNS cho học sinh đã được nhiều nước quan tâm và đầu xuất phát từ quan niệm chung về KNS của WHO hoặc của UNESCO, nhưng quan niệm và nội dung GDKNS ở các nước không giống nhau. Quan niệm, nội dung GDKNS được triển khai ở các nước vừa mang tính chung, vừa thể hiện tính đặc trưng riêng của từng quốc gia. Từ những quan niệm trên cho thấy, khái niệm KNS ở các quốc gia đều dựa trên cơ sở khái niệm KNS của tổ chức UNESCO, WHO,…Tuy nhiên, ở các quốc gia khác nhau, do khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa…nên có thể có sự khác biệt trong việc hình thành khái niệm cũng như nội dung GDKNS.

Tình hình nghiên cứu trong nước Thuật ngữ KNS được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ chương trình UNICEF (1996), “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”. Thông qua thực hiện Chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và GDKNS ngày càng mở rộng. Trong giai đoạn đầu tiên, khái niệm KNS được giới thiệu bao gồm các kỹ năng cốt lõi như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định và kỹ năng đạt mục tiêu. Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nước đề cập đến vấn đề KNS nói chung.

Nghiên cứu về KNS và GDKNS ở Việt Nam đã có một công trình hợp tác với UNESCO giữa Viện chiến lược và Chương trình giáo dục triển khai năm 2003. Nghiên cứu này chỉ ra những cách hiểu khác nhau về KNS, chương trình, dự án, HĐGD dựa trên tiếp cận KNS và những kiến nghị thúc đẩy việc đưa GDKNS vào giáo dục Việt Nam. Nội dung GDKNS được các nhà trường thực sự quan tâm từ khi có Chỉ thị 40/2008/CT-BGDĐT của Bộ GD và ĐT phát động các nhà trường thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong đó nội dung thứ ba và thứ tư của phong trào chính là tổ chức GDKNS cho học sinh, sinh viên. Mục đích rèn luyện cho học sinh, sinh viên kỹ năng ứng xử thân thiện trong mọi tình huống; thói quen và kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng hoạt động xã hội; Giáo dục cho học sinh thói quen rèn luyện sức khỏe, ý thức tự bảo vệ bản thân; Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, ý thức chung sống thân thiện, giải quyết hợp lý các tình huống mâu thuẫn, xung đột; Có thái độ lên án và kiên quyết bài trừ mọi hành vi bạo lực.

Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và GDKNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình với hàng loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu cấp Bộ và các giáo trình, tài liệu tham khảo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh THPT Tại Mỹ Tho" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc quản lý và tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông tại Mỹ Tho. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trang bị cho học sinh những kỹ năng cần thiết để tự tin và thành công trong cuộc sống. Nó không chỉ giúp học sinh phát triển toàn diện mà còn nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu "Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định", nơi cung cấp những phương pháp quản lý hiệu quả trong giáo dục kỹ năng sống. Ngoài ra, tài liệu "Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh qua hoạt động dạy học ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu" cũng là một nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến việc áp dụng các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương", để có cái nhìn tổng quát hơn về giáo dục kỹ năng sống trong các cấp học khác nhau.

Mỗi tài liệu này đều mang đến những góc nhìn và phương pháp khác nhau, giúp bạn mở rộng kiến thức và áp dụng vào thực tiễn giáo dục.