Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Quản lý giáo dục với đề tài "Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở các trường THPT tại thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận" do tác giả Ngô Nguyễn Huỳnh Hơn thực hiện năm 2012 tại Khoa Tâm lý - Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Võ Thị Hồng Trước.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Theo số liệu thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình được dẫn trong văn bản, Việt Nam thuộc nhóm ba quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai cao trên thế giới (dao động từ 1,2 đến 1,6 triệu ca/năm), trong đó lứa tuổi vị thành niên chiếm khoảng 20%. Riêng tại tỉnh Bình Thuận, số ca nạo phá thai năm 2011 ghi nhận khoảng 5.011 ca, nằm ở mức cao của cả nước. Một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tình trạng này xuất phát từ việc công tác giáo dục giới tính (GDGT) cho học sinh chưa đạt hiệu quả. Mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều chỉ đạo triển khai nội dung GDGT ở cấp Trung học phổ thông (THPT), việc thực hiện tại các cơ sở giáo dục vẫn còn phân tán, rời rạc, thiếu chiều sâu và chưa có sự kiểm tra, đánh giá định lượng cụ thể.

Trong hệ thống giáo dục, công tác quản lý đóng vai trò quyết định đến việc định hướng, kiểm soát và bảo đảm chất lượng triển khai các chương trình sư phạm. Tuy nhiên, trên thực tế, công tác quản lý hoạt động GDGT tại các trường THPT vẫn còn tình trạng buông lỏng, chưa được quan tâm đúng mức. Đặc biệt tại thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, nội dung GDGT trong trường THPT vẫn là vấn đề tương đối mới mẻ và còn nhiều bất cập trong khâu tổ chức, quản lý.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Xác định thực trạng công tác quản lý hoạt động GDGT ở các trường THPT tại thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận; từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động này tại các trường THPT trên địa bàn.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động GDGT ở các trường THPT.
    2. Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động GDGT ở các trường THPT tại thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
    3. Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động GDGT ở các trường THPT.

Khách thể, đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động giáo dục ở các trường THPT tại thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng công tác quản lý hoạt động GDGT ở các trường THPT tại thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
  • Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
    • Nội dung: Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động GDGT dưới hình thức tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp theo chuyên đề.
    • Địa bàn khảo sát: Ba trường THPT trên địa bàn thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận gồm: Trường THPT Lý Thường Kiệt, Trường THPT Nguyễn Huệ và Trường THPT Nguyễn Trường Tộ.
    • Thời gian: Sử dụng số liệu thống kê giáo dục năm học 2010 - 2011 và hoàn thành khảo sát thực tế vào tháng 05/2012.

Giả thuyết nghiên cứu

Hoạt động GDGT được tổ chức dưới hình thức hoạt động ngoài giờ lên lớp theo chuyên đề ở các trường THPT tại thị xã La Gi diễn ra không thường xuyên, dẫn đến công tác quản lý của cán bộ quản lý (CBQL) gặp nhiều khó khăn, còn nhiều hạn chế trong chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm; đồng thời việc huy động các lực lượng thành phần cùng tham gia giáo dục còn yếu.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ

Nghiên cứu tổng hợp các khái niệm nền tảng trong khoa học quản lý giáo dục:

  • Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý trường học: Kế thừa định nghĩa của các nhà nghiên cứu: PGS.TS. Nguyễn Lộc (quản lý là chương trình các hoạt động để đạt mục tiêu tổ chức), Nguyễn Bá Sơn, Hà Thế Ngữ, Trần Kiểm (quản lý là sự tác động của chủ thể trong việc huy động, sử dụng tối ưu các nguồn lực nhân - vật - tài lực), TS. Phạm Minh Hạc (quản lý nhà trường theo nguyên lý giáo dục nhằm hướng đến mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ), TS. Hồ Văn Liên, Nguyễn Ngọc Quang và Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII. Bản chất của quản lý trường học là hệ thống tác động có định hướng, kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên (GV), nhân viên, học sinh (HS), phụ huynh và các lực lượng xã hội.
  • Giới, giới tính và giáo dục giới tính: Tiếp cận khái niệm giới theo hai bình diện sinh học (hệ cơ quan sinh dục nam/nữ) và xã hội học (vai trò, chuẩn mực xã hội quy định); định nghĩa giới tính theo GS. Bùi Ngọc Oánh và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. GDGT được xác định theo quan điểm của Nguyễn Quang Mai, Bách khoa toàn thư y học phổ thông, Từ điển bách khoa về giáo dục và GS. Bùi Ngọc Oánh: là bộ phận của quá trình giáo dục toàn diện nhằm hình thành nhận thức, thái độ, kỹ năng giao tiếp ứng xử văn minh trong quan hệ khác giới và ý thức làm chủ bản thân.
  • Các chức năng quản lý: Dựa trên mô hình chu trình quản lý gồm 4 chức năng cốt lõi có quan hệ mật thiết: Lập kế hoạch $\rightarrow$ Tổ chức $\rightarrow$ Chỉ đạo (điều khiển) $\rightarrow$ Kiểm tra.
  • Hệ thống văn bản pháp quy và đề án lịch sử:
    • Chỉ thị 176A ngày 24/12/1984 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng về việc phối hợp xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa bồi dưỡng khoa học giới tính, hôn nhân gia đình cho học sinh.
    • Các đề án, chương trình thử nghiệm của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO: VIE/88/P10 (giáo dục dân số), VIE/88/P09 (giáo dục đời sống gia đình và GDGT), VIE/94/P01.
    • Dự án hỗ trợ tăng cường sức khỏe sinh sản vị thành niên VIE/97/P12, Chương trình RHITA của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
    • Chỉ thị số 23/2008/CT-TTg ngày 04/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình, giao nhiệm vụ cho ngành Giáo dục.

Quan điểm phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận vận dụng ba quan điểm phương pháp luận:

  1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc: Xem quản lý GDGT là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống quản lý tổng thể nhà trường.
  2. Quan điểm lịch sử - logic: Nghiên cứu hiện tượng trong hoàn cảnh không gian, thời gian lịch sử cụ thể để thu thập số liệu logic.
  3. Quan điểm thực tiễn: Xuất phát từ đòi hỏi thực tế của trường THPT để khảo sát và đề xuất giải pháp.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các tài liệu khoa học, văn bản chính sách, đề tài của các tác giả đi trước (Đặng Xuân Hoài, Trần Trọng Thủy, Bùi Ngọc Oánh, Huỳnh Văn Sơn, Đỗ Hà Thế Bình, Cao Thị Tuyết Mai...).
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (phiếu trưng cầu ý kiến): Soạn thảo 2 bộ phiếu hỏi riêng biệt cho nhóm CBQL - GV và nhóm HS tại 3 trường THPT trên địa bàn.
    • Phương pháp phỏng vấn sâu: Trao đổi trực tiếp với CBQL, GV và HS để làm rõ nguyên nhân của thực trạng.
    • Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham vấn các nhà quản lý giáo dục có kinh nghiệm nhằm thẩm định tính cần thiết và khả thi của các biện pháp.
  • Phương pháp toán thống kê: Ứng dụng phần mềm SPSS for Windows để xử lý dữ liệu định lượng, tính toán tỷ lệ phần trăm (%), điểm trung bình (ĐTB) và xếp hạng thứ bậc.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở các trường trung học phổ thông

Chương 1 khái quát lịch sử nghiên cứu GDGT trên thế giới (từ các tác phẩm cổ đại như Kama Sutra, Platon đến các chương trình tại Phần Lan, Đức, Pháp, Trung Quốc, Philippines...) và tại Việt Nam. Tác giả phân tích các luận điểm lý luận cốt lõi:

  • Đặc điểm tâm sinh lý học sinh THPT (15 - 18 tuổi):
    • Thể chất: Đạt độ hoàn thiện căn bản, xương cốt hóa, cơ bắp phát triển, tim mạch ổn định (nhịp co bóp trung bình 70 - 75 lần/phút), não bộ phát triển tương đương người lớn.
    • Nhận thức: Khả năng tư duy trừu tượng phát triển mạnh, xuất hiện tính hoài nghi khoa học, có óc quan sát nhạy bén nhưng đôi khi còn hành động theo cảm tính.
    • Giao tiếp và tình cảm: Nhu cầu độc lập cao (tự lập hành vi, tình cảm, đạo đức), tình bạn bè cùng trang lứa chiếm vị trí trung tâm, hình thành tình cảm yêu đương nam nữ lứa đôi.
  • Mục đích, nguyên tắc và nội dung GDGT:
    • Nội dung theo Chương trình Quốc gia năm 1990: Khối 10 (chủ điểm gia đình, bổn phận làm con, tình bạn); Khối 11 (tình yêu, hôn nhân, Luật Hôn nhân và Gia đình, quản lý gia đình); Khối 12 (cấu tạo cơ quan sinh dục, thụ thai, tránh thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, có thai ở tuổi vị thành niên).
    • Nguyên tắc thực hiện: Gắn liền với giáo dục đạo đức; đảm bảo tính toàn diện (sinh lý, tâm lý, thẩm mỹ, xã hội); kết hợp tri thức khoa học với thực tiễn; phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi và thuần phong mỹ tục.
    • Phương pháp và hình thức: Sử dụng 7 phương pháp dạy học (giảng giải, động não, thảo luận nhóm, vấn đáp, kể chuyện, nghiên cứu tình huống, đóng vai); triển khai qua 6 hình thức (tích hợp môn văn hóa như Sinh học, GDCD, Ngữ văn; hoạt động ngoài giờ lên lớp theo chuyên đề; sinh hoạt ngoại khóa/nghệ thuật; tiết sinh hoạt chủ nhiệm; tham vấn/tư vấn học đường; giảng dạy tiết riêng).
  • Cơ chế quản lý hoạt động GDGT: Xác định 4 nội dung quản lý cơ bản của CBQL: (1) Quản lý kế hoạch hoạt động GDGT; (2) Chỉ đạo xây dựng đội ngũ (GV Sinh học, GDCD, GVCN, Đoàn Thanh niên); (3) Chỉ đạo biên soạn nội dung và tổ chức hoạt động; (4) Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện.

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở các trường trung học phổ thông tại thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận

Chương 2 trình bày bức tranh tổng quan về địa bàn nghiên cứu và kết quả khảo sát thực chứng:

  • Tổng quan địa bàn và quy mô giáo dục: Thị xã La Gi được thành lập năm 2005, gồm 5 phường và 4 xã với dân số trên 110.000 người. Năm học 2010 - 2011, toàn thị xã có 3 trường THPT với 149 lớp, 6.616 HS và 236 GV. Cụ thể: Trường THPT Lý Thường Kiệt (65 lớp, 3.006 HS, 110 GV); Trường THPT Nguyễn Huệ (56 lớp, 2.477 HS, 83 GV); Trường THPT Nguyễn Trường Tộ (28 lớp, 1.133 HS, 52 GV).
  • Mô tả mẫu khảo sát thực nghiệm:
    • Mẫu CBQL và GV: 75 người (gồm 9 CBQL/cán bộ đoàn thể và 66 GV; phân theo giới tính: 29 Nam, 46 Nữ).
    • Mẫu học sinh: 210 HS (Khối 10: 23 HS, Khối 11: 67 HS, Khối 12: 120 HS; phân theo giới tính: 68 Nam, 142 Nữ).
  • Thực trạng tổ chức hoạt động GDGT:
    • Quy mô và mức độ: Hoạt động được tổ chức phổ biến nhất theo quy mô "Toàn trường", tiếp đến là "Theo lớp học" và sau cùng là "Theo khối lớp". Tần suất tổ chức ở cả 3 trường chủ yếu dừng lại ở mức "Thỉnh thoảng" (chiếm đa số theo Biểu đồ 2.1), do quỹ thời gian bị chi phối phần lớn cho việc bồi dưỡng kiến thức văn hóa.
    • Thái độ của học sinh: Biểu đồ 2.2 chỉ ra rằng 53,0% CBQL - GV và 41,4% HS đánh giá thái độ học sinh khi tham gia GDGT là "Bình thường"; tỷ lệ cảm thấy "Thích" trở lên là 43,0% (theo CBQL/GV) và 33,8% (theo HS).
    • Đánh giá hiệu quả: Biểu đồ 2.3 ghi nhận 49,0% HS đánh giá hoạt động ở mức "Bình thường", 17,0% cho rằng "Không lôi cuốn, nhàm chán", và chỉ có 22,0% nhận xét là "Hấp dẫn, thú vị".
  • Thực trạng quản lý hoạt động GDGT của cán bộ quản lý:
    • Lực lượng quản lý: Hoạt động GDGT được giao cho bộ phận phụ trách chuyên trách do một Phó Hiệu trưởng trực tiếp chỉ đạo, Hiệu trưởng đóng vai trò quản lý chung.
    • Quản lý kế hoạch (Bảng 2.2): Nội dung "Trường có kế hoạch GDGT lồng ghép trong kế hoạch năm học" đạt điểm trung bình 2,05 (63,5% thỉnh thoảng, 20,0% thường xuyên). Nội dung "Dựa trên kế hoạch ngoại khóa của các bộ môn văn hóa có liên quan như Sinh học, GDCD" đạt điểm trung bình 1,92 (80,0% thỉnh thoảng, 12,0% thường xuyên).
    • Hạn chế trong quản lý: Kế hoạch GDGT chưa được xây dựng thành chương trình độc lập, công tác kiểm tra đánh giá sau hoạt động (bài thu hoạch, kiểm tra nhận thức) còn yếu, kinh phí dành cho hoạt động còn hạn hẹp, đội ngũ GV chưa được tập huấn chuyên sâu về GDGT.
  • Đề xuất các nhóm biện pháp: Tác giả xây dựng các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bao gồm: nâng cao nhận thức cho đội ngũ quản lý và giáo viên; hoàn thiện quy trình lập kế hoạch và quản lý nội dung GDGT; bồi dưỡng phương pháp sư phạm GDGT cho GVCN và cán bộ Đoàn; tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá định kỳ và huy động nguồn lực kinh phí hỗ trợ.

Kết quả và đóng góp

Số liệu khảo sát thực nghiệm tổng hợp

Nội dung khảo sát Nhóm đối tượng / Chỉ số Tỷ lệ % / Điểm trung bình (ĐTB)
Quy mô học sinh toàn thị xã (2010 - 2011) THPT Lý Thường Kiệt
THPT Nguyễn Huệ
THPT Nguyễn Trường Tộ
Tổng số
3.006 HS (65 lớp)
2.477 HS (56 lớp)
1.133 HS (28 lớp)
6.616 HS (149 lớp)
Quy mô giáo viên toàn thị xã (2010 - 2011) THPT Lý Thường Kiệt
THPT Nguyễn Huệ
THPT Nguyễn Trường Tộ
Tổng số
110 GV
83 GV
52 GV
236 GV
Mẫu khảo sát nghiên cứu ($N$) Cán bộ quản lý & Giáo viên
Học sinh (Khối 10, 11, 12)
75 người (9 CBQL/Đoàn, 66 GV; 29 Nam, 46 Nữ)
210 HS (K10: 23, K11: 67, K12: 120; 68 Nam, 142 Nữ)
Thái độ của HS đối với hoạt động GDGT Mức độ "Bình thường"
Mức độ "Thích trở lên"
53,0% (đánh giá của CBQL-GV); 41,4% (HS tự đánh giá)
43,0% (đánh giá của CBQL-GV); 33,8% (HS tự đánh giá)
Hiệu quả hoạt động GDGT (theo HS) Hấp dẫn, thú vị
Bình thường
Không lôi cuốn, nhàm chán
22,0%
49,0%
17,0%
Thực trạng quản lý kế hoạch GDGT Kế hoạch GDGT lồng ghép trong năm học
Dựa trên kế hoạch ngoại khóa môn Sinh, GDCD
ĐTB = 2,05 (63,5% thỉnh thoảng; 20,0% thường xuyên)
ĐTB = 1,92 (80,0% thỉnh thoảng; 12,0% thường xuyên)

Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn

  • Về mặt lý luận: Khóa luận đã hệ thống hóa tường minh khung lý luận về quản lý hoạt động GDGT ngoài giờ lên lớp ở cấp THPT, gắn kết 4 chức năng quản lý giáo dục tổng quát vào đặc thù tâm sinh lý lứa tuổi 15 - 18.
  • Về mặt thực tiễn: Khắc phục khoảng trống của các nghiên cứu trước đây (như nghiên cứu của Đỗ Hà Thế Bình năm 2007 chỉ dừng lại ở cấp THCS tại Bình Dương, hoặc nghiên cứu của Cao Thị Tuyết Mai năm 2008 tại Quận 4 TP.HCM chưa phân tích sâu từng khâu quản lý của CBQL). Khóa luận là công trình đầu tiên khảo sát chi tiết thực trạng quản lý GDGT tại thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, cung cấp số liệu thực nghiệm làm căn cứ khoa học cho các quyết định quản lý trường học tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Nghiên cứu chỉ giới hạn khảo sát công tác quản lý hoạt động GDGT dưới hình thức hoạt động ngoài giờ lên lớp theo chuyên đề, chưa đi sâu đánh giá việc tích hợp GDGT trong chương trình văn hóa chính khóa hoặc hoạt động tư vấn tâm lý học đường chuyên trách.
    • Phạm vi không gian khảo sát tập trung tại 3 trường THPT thuộc thị xã La Gi, chưa mở rộng ra các huyện khác của tỉnh Bình Thuận.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng địa bàn điều tra khảo sát trên phạm vi toàn tỉnh Bình Thuận và các tỉnh lân cận thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ.
    • Nghiên cứu chuyên sâu về các mô hình phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các tổ chức y tế - xã hội địa phương trong quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên.
    • Thử nghiệm và đo lường tác động định lượng dài hạn của các biện pháp quản lý được đề xuất đối với sự chuyển biến nhận thức và hành vi của học sinh THPT.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo phục vụ các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý giáo dục, Giáo dục học, Tâm lý học sư phạm: Tham khảo phương pháp xây dựng khung lý thuyết quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, thiết kế bảng hỏi khảo sát thực trạng cho hai nhóm đối tượng (giáo viên và học sinh), cũng như cách thức xử lý dữ liệu khảo sát bằng phần mềm SPSS.
  • Cán bộ quản lý trường THPT (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng phụ trách hoạt động ngoài giờ): Vận dụng quy trình 4 chức năng quản lý (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) để thiết kế và quản lý chương trình GDGT chuyên đề phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất và thời lượng năm học.
  • Giáo viên môn Sinh học, Giáo dục công dân, Giáo viên chủ nhiệm và Cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: Khai thác hệ thống phương pháp giáo dục giới tính chủ động (thảo luận nhóm, đóng vai, nghiên cứu tình huống) và danh mục chủ điểm nội dung theo từng khối lớp 10, 11, 12 để xây dựng giáo án hoạt động ngoại khóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Bối cảnh thực tiễn nào về tình trạng nạo phá thai đã thúc đẩy tác giả lựa chọn đề tài này?

Theo số liệu thống kê dẫn trong phần Mở đầu của khóa luận, Việt Nam thuộc nhóm 3 nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới với khoảng 1,2 đến 1,6 triệu ca/năm, trong đó 20% thuộc lứa tuổi vị thành niên. Riêng tại tỉnh Bình Thuận, năm 2011 ghi nhận tới 5.011 ca nạo phá thai. Tình trạng này phản ánh thực tế hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh chưa được thực hiện đồng bộ và hiệu quả, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực quản lý hoạt động này trong nhà trường THPT.

2. Mẫu khảo sát định lượng của khóa luận được phân bổ cụ thể ra sao?

Khảo sát thực nghiệm được thực hiện trên hai nhóm mẫu tại 3 trường THPT của thị xã La Gi:

  • Nhóm CBQL và GV: Gồm 75 người (9 CBQL/cán bộ đoàn thể, 66 GV; 29 Nam và 46 Nữ).
  • Nhóm học sinh: Gồm 210 HS (Khối 10: 23 HS, Khối 11: 67 HS, Khối 12: 120 HS; 68 Nam và 142 Nữ).

3. Thực trạng thái độ và đánh giá hiệu quả của học sinh đối với hoạt động GDGT tại các trường THPT thị xã La Gi được ghi nhận như thế nào?

Số liệu khảo sát chỉ ra rằng hoạt động GDGT tại đây chưa thực sự lôi cuốn học sinh: 41,4% HS (và 53,0% CBQL-GV) có thái độ "Bình thường" khi tham gia; về mặt đánh giá hiệu quả tổ chức, có tới 49,0% HS đánh giá ở mức "Bình thường", 17,0% cho rằng "Không lôi cuốn, nhàm chán", và chỉ có 22,0% học sinh cảm nhận hoạt động "Hấp dẫn, thú vị".

4. Công tác quản lý kế hoạch hoạt động GDGT tại địa bàn nghiên cứu có đặc điểm gì nổi bật?

Kết quả Bảng 2.2 cho thấy kế hoạch GDGT của nhà trường chủ yếu được lồng ghép trong kế hoạch năm học chung (ĐTB = 2,05; 63,5% thỉnh thoảng, 20,0% thường xuyên) hoặc phụ thuộc vào kế hoạch ngoại khóa của các bộ môn Sinh học và GDCD (ĐTB = 1,92; 80,0% thỉnh thoảng, 12,0% thường xuyên), chưa được xây dựng thành một chương trình chuyên đề độc lập và định kỳ.

5. So với các công trình nghiên cứu đi trước, khóa luận này có điểm gì khác biệt?

Nghiên cứu của Đỗ Hà Thế Bình (2007) chỉ tập trung ở cấp THCS tại Bình Dương và chưa đi sâu vào từng nội dung quản lý cụ thể của CBQL; nghiên cứu của Cao Thị Tuyết Mai (2008) tại TP.HCM tập trung chủ yếu vào giáo viên bộ môn văn hóa mà ít đề cập đến GVCN hay Đoàn Thanh niên. Khóa luận của Ngô Nguyễn Huỳnh Hơn đã khảo sát toàn diện các khâu quản lý (kế hoạch, chỉ đạo, kiểm tra) gắn với các lực lượng phối hợp (Phó Hiệu trưởng, GVCN, Đoàn trường) tại địa bàn thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Ngô Nguyễn Huỳnh Hơn là công trình nghiên cứu thực nghiệm có hệ thống về công tác quản lý hoạt động giáo dục giới tính ngoài giờ lên lớp tại các trường THPT trên địa bàn thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Dựa trên việc phân tích số liệu khảo sát từ 75 cán bộ quản lý, giáo viên và 210 học sinh, tác giả đã phản ánh khách quan thực trạng tổ chức và quản lý GDGT còn mang tính thời vụ, chưa thường xuyên và hiệu quả thu hút học sinh còn hạn chế. Các biện pháp quản lý được đề xuất trong công trình bám sát chu trình 4 chức năng quản lý, cung cấp tài liệu tham khảo khoa học cho các cơ sở giáo dục phổ thông trong việc nâng cao chất lượng giáo dục giới tính và chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên.