Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHO THONG 1.1 Lich sử nghiên cứu van đề Vấn đề giới tính và GDGT đã được xem xét từ rất lâu. Vào thời kỳ xa xưa của văn minh loài người, giới tinh đã được đẻ cập đến bang một hệ thong than thoại cổ đại và các khảo luận vẻ tình yêu như Kinh “Kama Sutra”, “Phaedr”, “Bữa tiệc” của Platon. Công tác nghiên cứu khách quan các vấn đề về giới tính, tính dục chi thật sự được tiến hành ở thời kì Phục hưng. Trong thời kì này, những khía cạnh của tính dục, nhất là xét về phương diện đạo đức và giáo dục, được người ta nghiên cứu tới.
Vào thời ky tiền khoa học người ta xem xét giới tính và GDGT theo quan điểm tôn giáo và đạo đức thời đó. Vào cuối thé ki XVIII, đầu thế ki XIX, các đề tai nghiên cứu vê giới tính được mỡ rộng hơn. Cho đến cuối the ki XIX, đầu thé ki XX, các công trình của các nhà khoa học như J. không những đã gắn sự phát triển quan hệ tính dục với các dang hôn nhân va gia đình, mà còn gắn cả với yếu tô khác của chế độ xã hội và văn hoá.
Đầu thể ki XX, xuất hiện một số quan điểm sinh học về van dé giới tinh, và trong chừng mực nào đỏ, lại có sự tham gia thêm của các quan điểm tâm li học. Trong những năm 20 - 30 của thé ki XX, việc nghiên cứu tính dục phát triển mạnh và gắn với phong trào gọi là “Phan đấu vì những cải cách tính dục”, đòi hỏi bình đăng nam nữ, giải phóng hôn nhân khỏi quyền lực nhà thờ, tự đo li hôn và sử dụng các biện pháp phòng tránh thai, giáo dục tinh dục trên cơ sở khoa học. Tuy nhiên, những lí luận trong thời ki này còn nặng tinh tư biện, tách rời khỏi cơ sở xã hội vả thực tiễn. Từ năm 1959, nhiều tải liệu về GDGT đã được biên soạn công phu, có thé kế đến một số công trình của các tác giả như: R.
Từ những năm 60 vấn đề GDGT đã được tiến hành rộng rãi. Ngay từ những năm 70, việc GDGT cho HS đã được đề xuất, giảng đạy ở một số nơi. Từ năm 1974, một chương trình GDGT đã được xây dựng rất ti mi cụ thẻ, day cho HS phô thông. Ở nhiều nước Đông Âu như: Tiệp Khắc, Hungary, Ba Lan.
đều đã tiến hảnh GDGT cho HS phổ thông bằng những chương trình bắt buộc. Ở Phần Lan, GDGT thường được tích hợp vào nhiều bải học bắt buộc, chủ yếu như một phan của các bài giảng về sinh học (ở các lớp thấp) và sau đó trong các bài giảng liên quan tới các vấn đề sức khoẻ nói chung. Ở các nước phương Tây như: Anh, Dan Mach, Thụy Điền,. đã tiễn hanh giáo đục cho HS khá sớm.
Ở Pháp, GDGT đã là một phần của chương trình học trong nhà trường từ năm 1973. Ở Đức, GDGT đã là một phan của chương trình học từ năm 1970, Một số quốc gia ở châu A, châu Phi, Mĩ Latin cũng dua GDGT vào trường phổ thông và đã đạt kết quả tốt. Ở Trung Quốc đã tiến hành GDGT cho học sinh từ năm 1974 và hiện nay là một trong những nước có nhiều công trình nghiên cứu, có sự phát triển cao trong nghiên cứu khoa học vẻ giới tính. Ngay các nước Đông Nam Á như: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Singapore, Philippines.
cũng đã thực hiện nội dung giáo dục nảy. Ở Philippines, GDGT đã được đưa vào chương trình nội khoá của trường phô thông cơ sở và trường THPT, va là một bộ phận cúa giáo dục dân số va kế hoạch hoá gia đình. Nhìn chung, hoạt động GDGT đã được các quốc gia trên thế giới nhận thấy được tầm quan trọng, nhất là đối với thế hệ trẻ và tiến hành triển khai thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Ở Việt Nam, trong những năm gan đây cùng với giáo dục dan số, GDGT đã bắt dau được quan tâm rộng rãi.
Việc GDGT đã được chú ý đây mạnh theo tinh than chỉ thị 176A ngảy 24 tháng 12 năm 1984 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Van Dong ki da nêu rõ: "Bộ giáo dục, Bộ Dai học va Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng chương trình chính khoá và ngoại khoá nhằm bồi dương cho HS những kiến thúc vẻ khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái”. Bộ Giáo dục đã đưa ra Chỉ thị về việc giáo dục dân số và GDGT trong toàn bộ hệ thông trường học các cấp và các ngành học của cả nước. Từ năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả vẻ giới tính, vẻ tinh yêu, hôn nhân gia đình đã bat đâu được công bd, có thẻ kẻ đến các công trình của các tác giả như: Đặng Xuân Hoài, Tran Trọng Thuy, Bùi Ngọc Oánh, Lê Nguyên, Minh Đức. đã nghiên cứu nhiêu vẫn đề, nhiều khía cạnh chỉ tiết của giới tính và GDGT.
Các công trình nghiên cứu đã bước dau lam cơ sở cho việc GDGT cho thanh niên và HS. Đến năm 1988, các dự án thử nghiệm VIE/88/P10 (giao dục dân số ở các trường pho thông va sư phạm), VIE/88/P09 (giáo dục đời song gia đình va GDGT) roi đến VIE/94/P01 nâng cao và hoản chỉnh chương trình nói trên đã được Hội đồng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tải trợ của UNFPA va UNESCO khu vực. Các chương trình thử nghiệm ve giáo dục đời sông gia đình và GDGT đã được đại đa so HS, GV, cha mẹ học sinh chap nhận. Dưới sự chi đạo trực tiếp của Giáo sư Tran Trọng Thủy và Giáo su Đặng Xuân Hoài, dé án đã được tiến hành rất thận trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều van dé như; quan niệm về tinh bạn, tinh yêu, hôn nhân, nhận thức vẻ giới tính và GDGT của GV, HS, phụ huynh.
& nhiều nơi trong cả nước, dé chuẩn bị tiến hành GDGT cho HS phê thông từ lớp 9 đến lớp 12. 8 Từ khoảng năm 1990, ở Việt Nam đã có nhiều dự án Quốc gia, nhiều dé tài liên kết với các nước, các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính và những, vân đề có liên quan như: Giáo dục sức khỏe sinh sản; giáo đục về tình yêu trong thanh niên, HS; giáo dục đời sông gia đình, GDGT cho HS. Việc nghiên cứu giới tính và GDGT đã được sự quan tâm nhiều của Nha nước, Bộ Giáo dục và Dao tạo, Bộ Y tê, các nhà khoa học và các bậc phụ huynh. Dau năm 1998, Trung ương Doan TNCS Ho Chi Minh đã triển khai Dự án “Hỗ trợ tăng cường SKSS VTN-VIE/97/P12” va gan đây đã triên khai “Chương trình chăm sóc SKSS” (RHITA) cho vị thanh niên và thanh niên Việt Nam”.
Năm 2008, Chỉ thị so 23/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chinh phủ ngảy 4 tháng 8 nam 2008 “Ve việc tiếp tục đây mạnh công tác dân số vả kế hoạch hóa gia đình". Trong đó, xác định nhiệm vụ của Bộ Giáo dục và Đào tạo là triển khai có hiệu quả hoạt động giáo duc dan số, sức khỏe sinh sản, giới va giới tính trong vả ngoài nhà trường. Trong những nam gan đây, GDGT cho HS đã được sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội, công tác GDGT trong nha trường phô thông đã được nhiều tác giả tiến hanh nghiên cứu. Tuy nhiên, hau hết các dé tai tập trung nghiên cứu ở khía cạnh tâm lý của HS đối với công tác GDGT vả thực trạng việc tô chức thực hiện hoạt động GDGT trong nhà trường.
Có thẻ ké đến một sô công trình nghiên cứu sau: - Năm 1991, dé tải nghiên cứu: “Những yếu tổ tâm lý trong sự chap nhận GDGT của thanh niên học sinh” của GS Bùi Ngọc Oanh. - Năm 1994, dé tài luận văn thạc sĩ: “Thue trạng nhận thức và thái độ của học sinh THPT đối với một số nội dung GDGT" của Huỳnh Văn Sơn. - Năm 1994, dé tài luận văn tốt nghiệp: “Tìm hiểu sự nhận thức va quan tâm của học sinh THPT vẻ các van đẻ giới tinh” của Nguyễn Văn Phương. 9 - Năm 1999, để tài nghiên cứu: “Một số suy nghĩ vé quan niệm tình dục của vị thành niên hiện nay đối với van dé tinh dục” của Nguyễn Bích Điểm.
- Năm 1998, đề tài luận văn tốt nghiệp: “Khảo sát thực trạng nhận thức, thái độ của học sinh THPT về một số van dé co bản của nội dung GDGT tại một số trường THPT thành pho Hồ Chí Minh” của Lê Khắc Mỹ Phượng. - Năm 2002, đề tài luận văn tốt nghiệp: “Thực trạng và các biện pháp giáo dục giới tính cho học sinh trong một số trường THPT ở Quận 2 TP.HCM” của Đào Việt Cường. Riêng đối với công tác quản lý hoạt động GDGT cho HS bậc phô thông trung học chỉ mới có một vai tác giả tiền hành nghiên cứu. Trong đó có thé dé cập đến các công trình sau: - Đề tài luận văn thạc sĩ của Đỗ Hà Thế Bình: “Thực trạng việc quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở tại huyện Thuận An, Tỉnh Bình Dương và một số giải pháp”, năm 2007.
Ngoài việc xây đựng lý luận về công tác quản lý GDGT tại nhả trường như: quản lý nguồn nhân lực, quản lý việc tham gia phối hợp của các tổ chức giáo dục trong và ngoài nhà trường, quản lý nội dung về kiến thức GDGT, quản lý việc xây dụng và thực hiện kế hoạch GDGT, đánh giá hiệu quả của hoạt động GDGT, tác giả tập trung làm rõ thực trạng quản lý hoạt động này trên địa bàn huyện Thuận Án, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, về tìm hiểu thực trạng công tác quản lý hoạt động GDGT cho HS ở các trường THCS trên địa ban nghiên cứu chưa cụ thẻ từng nội dung quản lý của CBQL mà chủ yếu đánh giá qua thực trạng công tác GDGT ở các trường. Vì vậy, việc đề xuất các biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý GDGT vẫn chưa thực sự bám sát yêu cầu nâng cao hiệu công tác quan lý của CBQL tại nhà trường. 10 - Dé tai luận văn thạc sĩ của Cao thị Tuyết Mai: "Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính tại các trường Trung học cơ sở thuộc Quận 4 TP.