Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS ở các trường phổ thông tư thục trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS ở các trường phổ thông tư thục trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Trên thế giới, GDGT là vấn đề được hầu hết các quốc gia quan tâm. GDGT đã là một phần của chương trình bắt buộc và toàn diện trong trường học với tất cả HS nhiều quốc gia.
Năm 1941, lần đầu tiên bà Alava Myrdal (Hoa Kì) đã nêu lên sự cần thiết GDGT cho học sinh trong nhà trường chính quy và cho người lớn trong hệ giáo dục không chính quy. Trong cuốn sách “Quốc gia và gia đình” của mình bà đã cố gắng thuyết phục chính phủ Mỹ rằng muốn thực hiện tốt các chính sách xã hội, phải thực hiện chính sách dân số sáng suốt, cơ quan giáo dục các cấp có vai trò lớn đối với thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường để đạt tới các mục tiêu chính sách dân số quốc gia [32]. Năm 1943, các ông Frank Lorimer và Fridrich Osborn kiến nghị vấn đề dân số cần được đưa vào chương trình phổ thông. Tháng 3 năm 1962, trong tạp chí “Các thành tựu sư phạm”, Waren S.
Thompson đề xuất khái niệm “bùng nổ dân số” và nêu ra rằng biến động dân số có liên quan đến phúc lợi của con người. Trong bài “Sự bùng nổ dân số” ông đã nói rõ quan điểm phải đưa GDGT vào giáo dục chính quy của một xã hội dân chủ [13]. Hội nghi về dân số và giáo dục gia đình do UNESCO khu vực Châu Á bảo trợ và tổ chức năm 1970 tại Băng Cốc (Thái Lan) là một cái mốc đáng ghi nhận trong lịch sử GDGT. Các nhà giáo dục của 13 nước Châu Á- Thái Bình Dương có mặt đã xác định rõ mục tiêu, nội dung giáo dục dân số trong nhà trường, phác thảo tài liệu chỉ dẫn đưa GDGT vào các bộ môn nghiên cứu xã hội, khoa học tự nhiên.
Theo hội nghị này, GDGT được định nghĩa là một chương trình giáo dục về tình hình dân số trong một gia đình, một cộng đồng, quốc gia và toàn thế giới, nhằm mục đích phát triển ở người học thái độ, hành vi ứng xử đúng đắn và có trách nhiệm với tình hình đó [9]. Từ năm 1980 trở đi, GDGT dần dần đựoc xem là một biện pháp có hiệu quả của chương trình vận động KHHGĐ. Nhưng ở nhiều quốc gia, nhất là các nước đang phát triển chưa thể hiện rõ nét kết quả đó, họ chỉ tập trung đầu tư cho các biện pháp kĩ thuật y tế trong sinh đẻ có kế hoạch nhiều hơn là cho GDGT trong nhà trường và xã hội. Ở một số nước thì nội dung GDGT lại quá rộng, dàn mỏng trong quá nhiều môn học, hiệu quả còn thấp [9].
Năm 1982 Hội nghị tư vấn khu vực khẳng định vai trò GDGT trong vận động KHHGĐ và khuyến nghị chương trình GDGT nên được tập trung thích hợp vào một 6 số môn học tích hợp [9]. Đặc biệt là ở Anh vào ngày 1 tháng 3 năm 2017 Bộ Giáo dục đã đưa chương trình “Mối quan hệ và giáo dục giới tính” (RSE - Relationships and Sex Education) thay cho “Giáo dục về tình dục và mối quan hệ” [29]. Đạo luật 2017 quy định về các mối quan hệ và giáo dục giới tính được dạy trong tất cả các trường học ở Anh. Những thay đổi bao gồm: - Tất cả các trường tiểu học ở Anh đều giảng dạy môn “Giáo dục các mối quan hệ” (Relationships Education).
- Tất cả các trường trung học dạy môn “Quan hệ và Giáo dục Giới tính” (Relationships and Sex Education). [29] Tại Liên xô cũ các nhà khoa học đã đưa ra nhiều quan điểm khoa học về việc giáo dục giới tính cho con người và coi đó là nội dung quan trọng cần phải giáo dục cho học sinh. Do đó họ cũng đưa ra nhiều phương hướng quan trọng trong việc giáo dục giới tính ở Liên Xô.l Lênin cũng cho rằng: “cùng với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội thì vấn đề quan hệ giới tính và hôn nhân gia đình được coi là cấp bách” [9].x Makarenco (Liên Xô cũ) đã khẳng định vai trò cấp thiết và quan trọng của giáo dục giới tính và đã đưa ra những nguyên tắc, nội dung và phương hướng giáo dục giới tính cho học sinh. Ông xem giáo dục giới tính là một mặt của giáo dục nhân cách toàn diện cho học sinh.
Makarenko viết: “Đạo đức xã hội đặt ra những vấn đề về giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên. Sinh hoạt giới tính của con người liên quan mật thiết với việc giáo dục về tình yêu, về đời sống gia đình tức là mối quan hệ giữa nam và nữ, mối quan hệ dần tới mục đích hạnh phúc cùa con người, không thể quên giáo dục loại tình cảm đặc biệt đó về giới tính” [9]. Năm 1981, hội đồng bộ trưởng Liên Xô (cũ) đã ra Chỉ thị cho tất cả các trường THCS trong cả nước thực hiện chương trình giáo dục giới tính. Chương trình này được biên soạn cụ thể cho các cấp học.
Đặc biệt, nội dung chương, trình giáo dục ở hai lớp cuối cấp II có thêm một môn học là đạo đức học và tâm lý học đời sống gia đình. Việc thực hiện nội dung đề ra vẫn chưa thống nhất. Đến năm 1960, giáo dục giới tính mới được khẳng định, nghiên cứu rộng rãi và hoàn thiện dần [21]. Tại Thụy Điển, năm 1942, Bộ Giáo dục đã thí điểm đưa giáo dục tình dục vào nhà trường.
Đến năm 1956 thì dạy phổ cập cho các bậc học từ tiểu học đến trung học. Giáo dục giới tính là môn học bắt buộc trong trường học. Học sinh được các kiến thức sinh học liên quan đến giới tính và cả quá trình lịch sử của giới tính, tình dục và tính dục [18]. Tại Đức, vấn đề giáo dục giới tính được tiến hành từ những năm 1960.
Năm 1974, một chương trình giáo dục giới tính đã được dạy cho học sinh phổ thông từ lớp 8, gồm 15 chủ đề khác nhau và trên 20 sách tham khảo được qui định [18]. Tại Pháp, từ những năm 1973, các chương trình giáo dục giới tính đã có trong các nhà trường. Học sinh lớp 8 và lớp 9 được học khoảng 30 - 40 giờ học giới tính. 7 Cuối khóa học các em được làm quen và học cách sử dụng bao cao su.
Chính phủ Pháp quyết định đưa kiến thức giới tính lên đài truyền hình vào tháng 2/2000 [21]. Tại Hoa Kỳ vào năm 1941, lần đầu tiên bà Alava Myrdal đã nêu lên sự cấp thiết giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh trong các trường học và cho người lớn trong hệ giáo dục không chính quy. Bên cạnh đó, vào năm 1943 các ông Fridrich Osborn và Frank Lorimer đã kiến nghị, vấn đề dân số cần được đưa vào chương trình phổ thông. Tạp chí “Các thành tựu sư phạm” (1962), Waren S.
Thompson đã chỉ ra rằng biến động dân số có liên quan đến phúc lợi của con người. Trong bài “Sự bùng nồ dân số” ông đã nói rõ quan điểm phải đưa giáo dục giới tính vào hệ thống giáo dục chính quy. Giáo sư Sloan Wayland (Đại học Cô-lôm-bia - Hoa Kì) đã biên soạn và tiến hành giảng dạy tài liệu “Các động lực dân số” và “Các giai đoạn mãn sinh sản” vào năm 1946 [18]. Tại Trung Quốc, khoảng những năm 1980, giáo dục giới tính được đưa vào giảng dạy khi đó đất nước Trung Quốc đã mở cửa hơn.
Theo nhà xã hội học Li Yinhe: "Trẻ em cần được giáo dục giới tính khi còn nhỏ. Chúng cần phải biết kiến thức cơ bản như sự khác biệt giới tính, vấn đề là các giáo viên cũng nên nói với trẻ những gì là đúng và những gì là sai trái về đạo đức tình dục, và dạy các em để bảo vệ mình khỏi các cuộc tấn công tình dục" [31]. Tại Nhật Bản, chính sách giáo dục giới tính truyền thống Nhật Bản được gọi là “Giáo dục thuần khiết”. Năm 1947, Bộ Giáo dục Nhật Bản ra văn bản “Về việc thực thi giáo dục thuần khiết” và cho ra tiếp “Những điều cơ bản về giáo dục thuần khiết” vào năm 1949, tiếp theo là sự ra đời của “Đề án thí điểm thực thi giáo dục thuần khiết” vào năm 1955.
Như vậy từ “giáo dục thuần khiết” được sử dụng lặp đi lặp lại, trong khi đó, từ “giáo dục giới tính” được sử dụng khá thận trọng. Phải đến năm 1986 từ “giáo dục giới tính” mới bắt đầu được sử dụng rộng rãi. Trong văn bản liên quan đến giáo dục giới tính lưu hành từ năm 1986 của Bộ Giáo dục Nhật Bản, cụm từ “Giáo dục giới tính” vẫn được coi là có ý nghĩa tiêu cực. Chủ đề giáo dục kinh nguyệt được phổ cập rộng rãi (bởi vì nếu kinh nguyệt dài hơn một thời kỳ nhất định có thể đã có thai).
Chủ để giáo dục này được phổ biến cho học sinh tiểu học lớp 6 (tương đương lớp 6 ở Việt Nam) và tiến hành đối với học sinh nhỏ tuổi hơn. Tuy nhiên việc giáo dục này được thực hiện bằng cách đưa những học sinh nữ vào phòng kín, tắt điện và xem hướng dẫn trên video. Đối với học sinh nam cũng có giáo dục giới tính tương tự. Sau này, việc giáo dục giới tính cho học sinh nam và học sinh nữ được tiến hành chung.
Các em được đưa vào phòng tối xem video hướng dẫn cách dùng các dụng cụ tránh thai. Phải đến nửa đầu những năm 1980 giáo dục giới tính ở Nhật Bản mới có biến chuyển do sự ảnh hưởng của AIDS (trường hợp đầu tiên bị phát hiện dương tính với HIV là năm 1985). Từ đó đến nay, nhà nước và các tổ chức phi chính phủ khác đã phát hành nhiều tờ rơi liên quan đến HIV AIDS và nhằm cả tới đối tượng học sinh THCS. Bao cao su cũng được khuyến khích sử dụng với mục đích tránh thai là công cụ phòng 8 chống HIV AIDS [18].
Như vậy trên thế giới, từ phương Tây sang phương Đông, các quốc gia đều quan tâm đến giáo dục giới tính từ lâu nay.