Chương 1. Cơ sở lý luận về hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở Trường tiểu học. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở các Trường tiểu học thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở các Trường tiểu học thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.
6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Mỗi cộng đồng trên thế giới đều có những qui tắc, chuẩn mực đạo đức riêng. Do có sự khác biệt về giá trị đạo đức giữa các cộng đồng trên thế giới nên vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh trong trường học ở các cộng đồng khác nhau cũng được nhìn nhận, đánh giá dưới nhiều quan điểm khác nhau.
Ở phương Đông, Khổng Tử (551 - 479 TCN), nhà triết học lớn, nhà giáo dục lớn của Trung Quốc đã khai sinh ra Nho giáo với quan điểm bồi dưỡng người có “đức nhân”, người “quân tử” có đủ phẩm cách và năng lực thi hành “đạo lớn”. Ông đã viết tác phẩm bất hủ “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu”, trong đó rất xem trọng việc giáo dục đạo đức cho con người. Khổng Tử cũng chú trọng đến việc giáo dục đạo đức cho con người. Ông đã đưa ra những phương pháp giáo dục đạo đức hết sức tích cực và tiến bộ như: Phương pháp chính danh, phương pháp tùy nghi thuyết giáo; phương pháp nêu gương; thống nhất giữa học với hành, giữa tri thức và cuộc sống,… Chính điều này đã làm cho Khổng Tử không những trở thành nhà tư tưởng kiệt xuất, mà còn là một nhà giáo dục vĩ đại, người thầy của muôn đời.
Dawson (1994) trong bài viết “Moral Education: A Review of Constructivist Theory and Research” (Giáo dục đạo đức: Một tổng quan về lý thuyết và nghiên cứu của nhà phát triển) đã trình bày tổng quan nhất về những nghiên cứu và lý thuyết phát triển đạo đức trên thế giới, và đánh giá những ảnh hưởng của nó đối với giáo dục đạo đức. Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh ảnh hưởng của môi trường giáo dục đối với sự phát triển đạo đức của thế hệ tr. Những môi trường giáo dục mà trong đó thúc đẩy sự phát triển đạo đức của học sinh phải bao gồm một sự kết hợp giữa hành động đạo đức và sự phản ánh, tức là trải nghiệm (làm và suy ngẫm). [42] Wilson (2000) trong bài viết “Methodology and Moral Education” (Phương pháp luận và giáo dục đạo đức) đã đưa ra lập luận về một thủ tục cho giáo dục đạo đức gồm 5 bước: (1) Xác định ý nghĩa, vùng ảnh hưởng của đạo đức; (2) Thiết lập những hoạt động để mang lại hiệu quả tốt; (3) Xây dựng các phương pháp đánh giá thực tế; (4) Thử nghiệm các phương pháp giáo dục đạo đức; (5) Đưa ra các khuyến nghị thực tiễn.
Kết quả nghiên cứu của Wilson rất hữu ích cho giáo viên, nhà nghiên cứu để định hướng, lựa chọn phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh. [43] 7 Ở phương Tây, Nhà triết học Aristoste (384 -322 TCN) cho rằng thượng đế không áp đặt để có công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức.Mác (1818 -1883), người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học, cho rằng: “Con người phát triển toàn diện sẽ là mục đích của nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa và con người phát triển toàn diện là con người phát triển đầy đủ, tối đa năng lực sẵn có về tất cả mọi mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, tình cảm, nhận thức, năng lực, óc thẩm mỹ và có khả năng cảm thụ được tất cả những hiện tượng tự nhiên, xã hội xảy ra chung quanh,. [30] Đặc biệt chúng ta không thể không nhắc tới tác phẩm: “142 tình huống giáo dục đạo đức” của E.Xecmiaco do Phạm Khắc Chương dịch – Nhà xuất bản giáo dục năm 1995. Ông đã đưa ra một loạt các tình huống xác thực với cuộc sống về vấn đề giáo dục đạo đức, từ đó đề xuất các phương pháp giáo dục khoa học để khắc phục các mặt tồn tại nhằm đem lại hiệu quả cho công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ngày càng tốt hơn.
Công trình nghiên cứu: “Teaching moral education in secondary schools using reallife dilemmas” của tác giả Vishalache Balakrishnan đã nghiên cứu các phương thức giáo dục đạo đức cho học sinh trung học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh. Về mặt lý luận, nghiên cứu của tác giả đã làm rõ nội hàm đạo đức, theo các trường phái nghiên cứu khác nhau từ học thuyết của Socrates (470-399 TCN) đến quan điểm của Khổng Tử (551-479 TCN) về đạo đức; ngoài ra tác giả cũng đã chỉ ra những đặc điểm về đạo đức đối với học sinh Malaysia, vốn là đất nước đa dân tộc, đa tôn giáo. Luận điểm của tác giả cho rằng, vì đặc điểm thực tế về con người, văn hóa, tôn giáo nên phương thức giáo dục đạo đức cho học sinh trong các trường trung học Malaysia phải đổi mới theo hướng khuyến khích nhiều hơn sự chủ động của học sinh để đạt hiệu quả giáo dục. Về mặt thực tiễn, phương pháp thực nghiệm khoa học được tác giả lựa chọn để tiến hành nghiên cứu về cách thức thực hiện phương pháp giáo dục đạo đức, cụ thể là phương pháp để học sinh làm chủ, giáo viên giả định những vấn đề thực tiễn, học sinh tự thảo luận, tranh luận.
Đối tượng nghiên cứu là các em học sinh trung học, được lựa chọn theo các tiêu chí: giới tính, điều kiện gia đình, tôn giáo. Tuy nhiên, bên cạnh những phân tích định tính, luận án của tác giả chưa sử dụng phân tích định lượng để đo lường chính xác hiệu quả của phương pháp giáo dục mới. Ngoài ra, vai trò của gia đình trong giáo dục đạo đức cho học sinh chưa được coi trọng. Các công trình nghiên cứu ở trong nước * Nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức trong trường phổ thông Truyền thống của người Việt Nam đề cao giá trị đạo đức, coi đạo đức là gốc rễ của một con người.
Do vậy, đạo đức và giáo dục đạo đức luôn là chủ đề được cả xã hội quan tâm. Tấm gương đạo đức, nhà giáo dục đạo đức cách mạng đã để lại cho dân tộc Việt Nam nhiều di sản văn hóa. Những quan niệm hiện đại về đạo đức và giáo dục đạo đức ở Việt Nam được bắt nguồn từ những tư tưởng về đạo đức của Hồ Chí Minh. Bác nhấn mạnh những nét đạo đức căn bản nhất của cán bộ cách mạng là: Nhân - Nghĩa - Trí - Dũng - Liêm; hay đối với người lao động là: Cần - Kiệm - Liêm - Chính.
Bác cho rằng, những nét đạo đức này thì phải trải qua đấu tranh, r n luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Bác xem đạo đức là một nguyên lý phải theo trong quan hệ giữa người với người, tức là nó tồn cả ở mặt khách quan và chủ quan. Muốn xây dựng đạo đức mới thì phải tu dưỡng đạo đức bền bỉ thông qua thực tiễn cách mạng, nói đi đôi với việc làm, đấu tranh với những hiện tượng phi đạo đức. [28][29] Tư tưởng về phát triển toàn diện con người đã được thể hiện một cách dung dị trong 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; Học tập tốt, lao động tốt; Đoàn kết tốt; Kỷ luật tốt; Giữ gìn vệ sinh thật tốt; Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”.
Tư tưởng đó được kết tinh trong hai khái niệm “hồng” và “chuyên”, đó là hai mặt có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ với nhau, trong đó “hồng” hay đạo đức là gốc. Luật Giáo dục của Việt Nam qua nhiều lần sửa đổi vẫn giữ nguyên mục tiêu phát triển con người toàn diện, trong đó giáo dục đạo đức được coi trọng hàng đầu. Trong các Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc đều thể hiện quan tâm đến giáo dục thể hệ tr có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực làm việc để thực hiện sứ mệnh xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tương lai. Các nhà giáo dục Việt Nam cũng đã nghiên cứu và cho ra đời nhiều ấn phẩm về đạo đức và giáo dục đạo đức.
Phạm Minh Hạc (1986) đã đưa ra 6 giải pháp cơ bản để GDĐĐ cho con người Việt Nam: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức GDĐĐ trong trường học, củng cố giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việc GDĐĐ cho con người; kết hợp chặt chẽ GDĐĐ với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào r n luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân, trước hết là cho cán bộ, đảng viên, cho thầy cô các trường học; xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về GDĐĐ, nâng cao 9 nhận thức cho mọi người.” [14] Dưới góc độ giáo dục, tác giả Nguyễn Tùng Lâm bàn về phối hợp các phương pháp giáo dục nhằm khắc phục tình trạng yếu kém về đạo đức của học sinh THPT Hà Nội hiện nay, trong đó đáng chú ý là việc tăng cường tổ chức hoạt động tập thể, hoạt động xã hội phù hợp với hoàn cảnh tâm sinh lý học sinh phổ thông, kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà eo chủ đề “dạy con nên người”. [25] Nông Thị Trang (2019), nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học qua các truyện sinh hoạt trong sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học. Học sinh tiểu học là lứa tuổi mà ý thức đang hình thành, nhân cách đang được định hình, tâm hồn đang trong sáng, tư duy còn gắn liền với liên tưởng và tưởng tượng thì không gì gây tác động mạnh mẽ tới các em bằng những vần thơ, những áng văn giàu chất nhân văn và lấp lánh giá trị của nghệ thuật ngôn từ. Thông qua những tác phẩm, đoạn trích viết về cuộc sống sinh hoạt, lao động, học tập, tâm lý lứa tuổi của thiếu nhi trong chương trình Tiếng Việt tiểu học, rất nhiều bài học về đạo đức đã được chuyển tải tới các em.
Theo tác giả, cảm nhận cuộc sống, thu thập kiến thức qua văn học chính là con đường tích cực và nh nhàng để giáo dục HSTH trở thành những con người có sự phát triển toàn diện về nhân cách và đạo đức.