phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cấu trúc trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh nữ THPT Chuyên Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý HĐGDĐĐ cho HS nữ trƣờng THPT Chuyên Thái Bình Chƣơng 3: Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh nữ trƣờng THPT Chuyên Thái Bình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH NỮ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN 1. Sơ lƣợc về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ở phương Tây, nhà triết học Socrat (470-399-TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau. Có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức.
Aristoste (384-322-TCN) cho rằng không phải hy vọng vào Thượng đế áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức. Ở phương Đông từ thời cổ đại, Khổng Tử (551-479-TCN) trong các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu” rất xem trọng việc GDĐĐ. Khái niệm “ Đạo đức” đã xuất hiện trong triết học Trung Quốc, Ấn độ và Hy Lạp cổ đại với các nhà đạo đức học kinh điển. Khổng Tử (551-478 Tr.CN) đã đưa ra học thuyết Đức trị và triết lý giáo dục nổi tiếng “Tiên học lễ, hậu học văn”.
Mạnh Tử (371-289 Tr.CN) đưa ra học thuyết Nhân chính, xem trọng việc xây dựng một xã hội gồm toàn người tốt.CN) nhấn mạnh tính thiện của đạo đức… Đến thế kỷ XVII, J.Komenxky, nhà giáo dục học Tiệp Khắc lỗi lạc, trong tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại” của mình đã đề cập đến nhiều biện pháp GDĐĐ, làm nền tảng cho việc xây dựng nền giáo dục hiện đại sau này. Trong thế kỷ XX, các nhà sư phạm nổi tiếng của Xô Viết như N.A Xukhomlinxky cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về GDĐĐ cho thế hệ trẻ. Hiện nay, quản lí giáo dục đạo đức của Nhật Bản hướng vào trọng tâm là nền tảng các giá trị gia đình và văn hoá truyền thống, được thực hiện ưu tiên so với tất cả các môn học khác trong chương trình giáo dục phổ thông. Triết lí giáo dục đạo đức của Nhật Bản được ghi trong chương trình khung quốc gia nhằm đào luyện con người gồm 06 mục tiêu: Tinh thần tôn trọng nhân phẩm và lòng yêu quí cuộc sống.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Nhiệt tâm kế thừa, phát triển văn hóa truyền thống và sáng tạo văn hóa giàu tính cá nhân. Nhiệt tâm phát triển một đất nước và xã hội dân chủ. Ý thức đóng góp cho sự phát triển một thế giới hòa bình. Khả năng tự quyết định một cách độc lập.
Ý thức đạo đức (Kỉ luật, tự kiềm chế, tinh thần tập thể. Đặc trưng giáo dục đạo đức ở Nhật Bản tập trung vào 03 trọng điểm: Lòng tôn trọng cuộc sống. Quan hệ cá nhân và cộng đồng. Ý thức về trật tự dọc (Kỷ luật xã hội).
Ý thức về trật tự dọc là tôn ti xã hội nghiêm ngặt và là yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội của quốc gia Nhật Bản. Đó là điểm tựa cho công tác quản lí hoạt động này. Singapore lại tập trung vào việc tự đánh giá với hai nội dung chính là các động lực và kết quả. Động lực giúp các trường nhận biết cách thức để đạt được kết quả và kết quả cho thấy nhà trường đang đạt được những gì.
Từ đó, các nhà trường cần xem xét, thiết kế, cách thức hoạt động và sản phẩm đầu ra của giáo dục từ phương diện quá trình và kết quả cuối cùng. Các động lực sẽ chỉ cho lãnh đạo nhà trường biết được cách thức lãnh đạo nhân viên và quản lí hệ thống đạt được kết quả mong muốn. Việc quản lí hoạt động giáo dục tập trung chủ yếu vào các mặt: Lãnh đạo. Lập ké hoạch chiến lược.
Quản lí người dạy. Các qui trình hướng vào người học. Kết quả hoạt động quản lí. Kết quả của công tác đội ngũ.
Đối tác và kết quả về mặt xã hội: Kết quả hoạt động chính. Trung Quốc tập trung chủ yếu vào các mặt: Giáo dục lí tưởng XHCN. Lòng tự cường dân tộc. Tính kỉ luật trong lao động, học tập và hoạt động xã hội.
Trung Quốc coi trọng “giáo dục tố chất” nghĩa là tạo ra các điều kiện tiền đề để học sinh phát triển cả về thể chất và tâm hồn. Khiến cho tất cả học sinh đều được phát triển hết tiềm năng của mình từ đó thúc đẩy quá trình chuyển hóa ý thức xã hội bên trong phẩm chất tâm lí của cá thể học sinh. Đa số những nghiên cứu của Hoa Kì, Canada, Australia tập trung vào phát triển những cách tiếp cận và khung giá trị của giáo dục đạo đức, làm cho, hệ thống quản lí quốc gia tương đối mềm mại, tùy theo điều kiện cáp địa phương, về mặt quản lí, họ đề cao việc giáo dục các giá trị sống, giáo dục tính cách, giáo dục kĩ năng sống, dạy các kĩ năng xã hội và các giá trị văn hóa xuyên quốc gia, có tính chất quốc tế, tức là các giá trị nhân văn. Theo tiếp cận chung của những quốc gia này, giáo dục đạo đức được quản lí trong tổng thể các chiến lược giáo dục giá trị và giáo dục công dân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Những tổ chức quốc tế chủ yếu như Unesco, Unicef, Ngân hàng Thế giới (World Bank) v. cũng đề cao giáo dục đạo đức và quan tâm nghiên cứu so sánh quốc tế giữa các quốc gia và khu vực. Những nghiên cứu của họ nhấn mạnh kĩ năng sống, giá trị sống, trách nhiệm công dân, phát triển bền vững trên cơ sở giáo dục cho mọi người, phổ cập giáo dục, ngăn ngừa các tệ nạn xã hội, bạo lực trẻ em, lạm dụng lao động và tình dục trẻ em, nạn trẻ em lang thang cơ nhỡ và thiệt thòi về mặt xã hội, chính sách quốc gia bảo đảm công bằng cơ hội tiếp cận giáo dục 1. Các nghiên cứu trong nước Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có tài mà không có đức thì là người vô dụng”.
Người coi trọng mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức cho trong các nhà trường như: “Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”, “Khiêm tốn, thật thà dũng cảm”, “Con người cần có bốn đức: cần - kiệm - liêm - chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành người”. Kế thừa tư tưởng của Người, có rất nhiều tác giả nước ta đã nghiên cứu về vấn đề này như: Phạm Minh Hạc, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Khắc Chương, Trần Văn Chương, Phạm Hoàng Gia, Phạm Tất Dong, Võ Huỳnh Ngọc Vân, Phạm Trung Thanh và nhiều tác giả khác. Trong tài liều bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1997 - 2000 cho GV THPT: “Đạo đức học”, các tác giả Phạm Khắc Chương và Trần Văn Chương đã phân tích quá trình phát triển tâm sinh lý của HS THPT, về tình bạn, tình yêu, khẳng định đại đa số HS hiếu học, ngoan ngoãn, thông minh và chỉ có một bộ phận HS hư mà người có lỗi lại chính là người lớn chúng ta. Trong chương VI đề cập một số vấn đề quan tâm trong giảng dậy và GDĐĐ HS, trong đó các tác giả xây dựng chuẩn mực về đạo đức mới trong gia đình, trong học tập, trong tình bạn, tình yêu và trong giao tiếp.
Trong chương VII đề cập đến việc học tập, tu dưỡng đạo đức theo gương cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt trong chương VIII các tác giả đề xuất một số phương pháp giảng dạy và GDĐĐ cho HS trong nhà trường THPT bằng một số nhóm phương pháp cụ thể và bằng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cũng như mối quan hệ giữa các phương pháp đó. Tác giả Thái Duy Tuyên trong công trình nghiên cứu của mình: “Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại” [54] trong phần đánh giá về thực trạng đã tỏ ra rất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ lo lắng trước sự sa sút về đạo đức ngày càng gia tăng cả về số lượng lẫn chất lượng và mức độ nguy hại của một bộ phận HS. Tác giả kết luận HS đang trên đà giảm sút và cho rằng việc giáo dục đạo đức là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội đông thời cũng kiến nghị cần đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu về việc giáo dục đạo đức.
Trong tác phẩm: “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [22] của một nhóm tác giả do GS.VS Phạm Minh Hạc làm chủ biên, trong chương VII nói về định hướng chiến lược xây dựng đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng đã đánh giá thực trạng ĐĐHS, sinh viên hiện nay có một khoảng cách khá xa mới tiếp cận được với mục tiêu giáo dục giá trị đạo đức so với yêu cầu của thời kỳ mới. Trong cuốn: “Văn hoá với thanh niên - Thanh niên với văn hoá” [1] do Ban tư tưởng - Văn hoá Trung ương biên soạn tập hợp các bài viết của nhiều tác giả, trong đó tác giả Hà Nhật Thăng trong bài viết của mình đã nêu lên thực trạng đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống của thanh niên, HS, sinh viên hiện nay và đi đến nhận định: Trong HS, sinh viên có sự phân hoá khá rõ rệt, tỷ lệ giữa các nhóm có đạo đức tốt, chậm tiến, bình thường có sự chênh lệch khá lớn. Tuy nhiên các giá trị đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống được đa số HS, sinh viên quan tâm vẫn là các giá trị đạo đức cốt lõi của nhân cách con người Việt Nam; cũng có những giá trị mới do yêu cầu của CNH, HĐH chưa được HS, sinh viên coi trọng. Tóm lại, những giá trị truyền thống của dân tộc vẫn được số đông HS, sinh viên coi trọng tuy vẫn chưa thể hiện qua hành vi hoạt động.
Một bộ phận không nhỏ (khoảng 1/3 HS, SV) có sự giao động về nhận thức có hành vi sai trái liên quan tới một số giá trị quan trọng như: Trung thực, thẳng thắn, tinh thần trách nhiệm, lòng nhân ái. Tác giả nêu 4 nguyên nhân, có thể khái quát lên là công tác việc giáo dục đạo đức còn chưa được coi trọng đúng mức, chưa đồng bộ.