Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng trong hoạt động dạy học ở trường Đại học Chương 2: Thực trạng Quản lý hoạt động dạy học của Bộ môn Khoa học xã hội nhân văn & Kinh tế - Khoa Quốc tế ĐHQGHN 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 3: Các biện pháp quản lý quá trình dạy học của Bộ môn Khoa học xã hội nhân văn & Kinh tế - Khoa Quốc tế ĐHQGHN theo tiếp cận Quản lý chất lượng. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG TRONG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Về mặt lý luận, nhiều thuyết về ĐBCL GDĐH bắt đầu xuất hiện ở châu Âu với xuất phát điểm từ lĩnh vực kinh doanh và sản xuất hàng hóa, sau đó được đưa vào GD. Trong số đó, có thể kể đến ISO 9000 - bộ Tiêu chuẩn về quản lý chất lượng ra đời vào năm 1955.
Trải qua nhiều lần cải tiến, đến nay bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000 được chính thức ban hành ngày 15/12/2000, bao gồm 04 tiêu chuẩn cốt lõi với mục đích là đảm bảo cung cấp cho khách hàng những sản phẩm, dịch vụ không những đáp ứng được yêu cầu đã đề ra mà còn thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng trong tương lai. Bên cạnh đó, có một số phiên bản của các mô hình ĐBCL đã xuất hiện, chẳng hạn như các giải thưởng chất lượng quốc gia Baldrige ở Hoa kỳ, các giải thưởng chất lượng ở Châu Âu hoặc một số nước khác như Giải thưởng chất lượng Deming (Nhật Bản); Giải thưởng chất lượng Hàn Quốc; Giải thưởng chất lượng Singapore; Giải thưởng chất lượng Philipines; Giải thưởng chất lượng Quốc tế Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó một số đã được áp dụng vào lĩnh vực giáo dục [21]. Về mặt thực tiễn, trên thế giới hiện nay có nhiều tổ chức tham gia công tác KĐCL và ĐBCL GDĐH như: Tổ chức Mạng lưới ĐBCL giáo dục đại học quốc tế (INQAHE), Hội đồng kiểm định giáo dục đại học (CHEA), Mạng lưới Chất lượng Châu Á - Thái Bình Dương (APQN), Mạng lưới ĐBCL ASEAN (AUN), mà ĐHQG Hà Nội và ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh là thành viên. Mạng lưới ĐBCL ASEAN được thành lập vào năm 1998, đến năm 2004 tài liệu Hướng dẫn AUN – QA được thông qua và trở thành một cẩm nang cho các hoạt động ĐBCL trong khu vực ASEAN [18, tr.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiện nay, ĐBCL GDĐH được sử dụng rộng rãi trên thế giới như là một công cụ nhằm duy trì các chuẩn mực và để không ngừng cải thiện chất lượng giáo dục đại học. Nó được dùng như một thuật ngữ chung, ở các cấp độ khác nhau và theo rất nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào văn hóa và tình trạng phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước [41]. Trên thế giới, hơn 100 nước có hệ thống ĐBCL GDĐH. Tuy nhiên, phần lớn hệ thống ĐBCL ở các nước được hình thành trong những năm 90 (thế kỷ 20) nhằm thích ứng với sự phát triển về quy mô của GDĐH (đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng của GDĐH đại trà và sự gia tăng của GDĐH tư), khi nhiều nước trên thế giới phải trải qua những biến động lớn, đòi hỏi phải có những thay đổi trong hệ thống giáo dục đại học ở nước họ [41].
Việc ĐBCL được nhận thức và thực hiện rất khác nhau giữa các quốc gia. Ví dụ, ở Mỹ, ĐBCL là một quy trình đánh giá một cơ sở hay một chương trình nhằm xác định xem các tiêu chuẩn về GDĐH, học thuật và cơ sở hạ tầng có được duy trì và tăng cường không (CHEA, 2001 theo [41]). Theo AUQA (2002), ĐBCL ở Australia bao gồm các chính sách, thái độ, hành động và quy trình cần thiết để đảm bảo rằng chất lượng đang được duy trì và nâng cao. Ở Anh Quốc, ĐBCL là một công cụ qua đó cơ sở GDĐH khẳng định rằng điều kiện dành cho SV đã đạt được các tiêu chuẩn do nhà trường hay cơ quan có thẩm quyền đề ra (CHEA, 2001).
Ở nhiều nước Châu Âu trước đây, ĐBCL được sử dụng như một hệ thống đánh giá bên ngoài mà không cần phải có một sự công nhận chính thức các kết quả đạt được. Tuy nhiên, một xu hướng mới được hình thành là xúc tiến xây dựng hệ thống kiểm định trong mỗi quốc gia châu Âu [41]. Việc thực hiện ĐBCL ở các nước Đông Nam Á rất khác nhau. Ở Thái Lan, ĐBCL – được giới thiệu qua hệ thống kiểm tra chất lượng nhà trường, kiểm toán chất lượng bên ngoài và kiểm định công nhận (BHES, 2002) – nhằm vào các mục tiêu GDĐH, sự thực hiện, các kết quả học tập hay các chỉ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com số và sự phát triên.
Ở Indonesia, ĐBCL được xác định thông qua kiểm tra nội bộ các chương trình học, các quy định của chính phủ, cơ chế thị trường và kiểm định công nhận (Tadjudin, 2001 trong [41].) Một số các nước Đông Nam Á cũng đã thành lập cơ quan kiểm định quốc gia như : BDAC (Brunei), BAN-PT (Indonesia), LAN (Malaysia), FAAP (Philippines), ONESQA (Thái Lan). Trọng tâm kiểm định của mỗi quốc gia có sự khác nhau. Những nước như Indonesia thực hiện kiểm định ở cấp chương trình trong đó Malaysia, Brunei và Thái Lan thực hiện kiểm định ở cấp trường. Theo Len (2005), dẫn theo tác giả Phạm Quang Thanh [40] thì trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương, hầu hết các cơ quan ĐBCL quốc gia đều do Nhà nước thành lập, được Nhà nước cấp kinh phí và chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ kiểm định.
Các vấn đề về ĐBCL GDĐH nói chung, hệ thống ĐBCL trường ĐH nói riêng, còn được đề cập đến trong hầu hết các tài liệu của các tổ chức KĐCL hoặc ĐBCL trên thế giới ([46], [47], trong [21].) Năm 2005, Hiệp hội ĐBCL giáo dục đại học châu Âu (European Association for Quality Assurance in Higher Education - ENQA) đã đề ra bảy tiêu chí và nội dung hướng dẫn cho hoạt động ĐBCL bên trong ở các trường ĐH như sau [25]: - Chính sách và quy trình ĐBCL: Nhà trường cần có chiến lược, chính sách và các quy trình hoạt động nhằm không ngừng nâng cao chất lượng toàn diện; xây dựng và phát triển nếp văn hóa chất lượng trong toàn bộ các hoạt động. - Xét duyệt và định kỳ rà soát các chương trình đào tạo và việc cấp văn bằng, chứng chỉ: Nhà trường cần có cơ chế, quy trình để duyệt xét và định kỳ rà soát các chương trình đào tạo và văn bằng, chứng chỉ được cấp. - Đánh giá người học: Người học được đánh giá dựa trên các chuẩn mực, qui định và quy trình được công khai và có tính nhất quán. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - ĐBCL đối với đội ngũ giảng dạy: Đội ngũ giảng dạy được đảm bảo về chất lượng, được tham gia ý kiến vào các báo cáo đánh giá chất lượng của nhà trường.
- Nguồn tài nguyên hỗ trợ học tập: Người học được tiếp cận các nguồn tài nguyên học tập tương ứng với chương trình đào tạo. - Hệ thống thông tin: Nhà trường có đủ những thông tin cần thiết cho công tác quản lý các chương trình đào tạo và các hoạt động khác trong nhà trường. - Công khai thông tin: Nhà trường định kỳ cập nhật và công khai thông tin về các chương trình đào tạo và văn bằng, chứng chỉ được cấp.eu/files/ESG_v03.pdf) Hội thảo thường niên năm 2008 tại Chiba, Nhật Bản của Mạng lưới ĐBCL châu Á – Thái Bình Dương (Asia-Pacific Quality Network) cũng đã đề ra bảy nguyên tắc (được gọi là Chiba Principles) của ĐBCL bên trong mà mỗi cơ sở giáo dục ĐH cần áp dụng như sau [25]: - Xây dựng và phát triển nếp văn hóa ĐBCL trong toàn trường - ĐBCL được thể hiện trong những mục tiêu hoạt động của nhà trường - Xây dựng hệ thống ĐBCL bên trong cùng các chính sách và quy trình hoạt động - Tổ chức xét duyệt và định kỳ rà soát các chương trình đào tạo và việc cấp văn bằng, chứng chỉ - Xây dựng và triển khai chiến lược phát triển chất lượng toàn diệnChất lượng của đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu được duy trì và phát triển - Công khai các thông tin về nhà trường, về các chương trình đào tạo, văn bằng chứng chỉ được cấp và những thành tựu của nhà trường (http://www.au/NR/rdonlyres/F7C48BD9- DA8D-4CFD-8C6A-914E001E2E39/23073/FinalQAPrinciples.pdf) Ở Việt Nam, theo tác giả Nguyễn Phương Nga [37], khái niệm ĐBCL được du nhập vào Việt Nam vào thời điểm trước năm 1995 với sự ra đời của 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trung Tâm ĐBCL Đào tạo và Nghiên cứu phát triển giáo dục (CEQARD) thuộc Đại học quốc gia Hà Nội. CEQARD là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực ĐBCL ở Việt Nam và đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của hệ thống ĐBCL của đất nước.
Tuy nhiên, theo Phạm Xuân Thanh trong bài viết Hệ thống ĐBCL giáo dục Đại học: sự vận dụng vào thực tiễn Việt Nam [41], ở cấp độ quốc gia, việc hình thành và phát triển hệ thống ĐBCL giáo dục được bắt đầu quan tâm từ năm 2002 bằng việc hình thành phòng Kiểm định chất lượng đào tạo trong Vụ đại học thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, và năm 2003 thành lập Cục khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Bộ giáo dục và Đào tạo, chuyên trách về vấn đề này. Việc phát triển hệ thống ĐBCL giáo dục đại học nói chung và kiểm định chất lượng giáo dục đại học nói riêng ở Việt Nam bao gồm việc phát triển hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ĐBCL và kiểm định chất lượng giáo dục đại học, xây dựng mô hình phát triển và triển khai thực hiện, tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế vì đây là một công việc còn non trẻ nên cần có những bước đi căn bản từ ban đầu. Sau một vài năm triển khai thực hiện, hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục được quy định trong Luật giáo dục năm 2005 (Điều 17 và 58), Nghị định số 75/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục (Chương VII, Điều 38-40), trong các văn bản quan trọng khác của Chính phủ như Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010 và 2009-2020, các văn bản quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2001-2010 và 2008-2020, và Đề án đổi mới toàn diện và tổng thể giáo dục đại học .