Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức hội. Chương 2: Thực trạng hoạt động của các tổ chức hội và quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức hội trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Chương 3: Phương hướng, giải pháp quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức hội trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC HỘI 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về hội Khái niệm “hội” được thế giới xem xét, nhìn nhận là một trong những thành tố của xã hội dân sự trong mối quan hệ với nhà nước, thị trường, được thể hiện một cách phổ quát. Pháp là một trong những quốc gia có luật về hội sớm nhất , tại Điều 1 Luật về Hội ngày 01/7/1901 của Pháp đưa ra định nghĩa: “Hội là hợp đồng giao kết hai hoặc nhiều người cùng đóng góp, bằng kiến thức và sinh hoạt thường xuyên, vào việc thực hiện một mục đích không phải là mục đích để chia lời. Về mặt hiệu lực, hiệp hội được điều chỉnh bởi các nguyên tắc chung của pháp luật áp dụng cho hợp đồng và trái vụ” [22].
Một số quốc gia hiện vẫn sử dụng luật dân sự để điều chỉnh các hội (như Thái Lan, Hà Lan, Italia…) vì coi hội cũng chỉ là một chủ thể của đời sống dân sự. Chẳng hạn, Điều 1274 Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan đưa ra định nghĩa: “Hợp đồng thành lập hội liên hiệp là một hợp đồng, qua đó, nhiều người thoả thuận hợp nhau lại để cùng tiến hành một hoạt động chung ngoài mục đích chia lời” [21]. Theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu chính sách của trường Đại học Johns Hopkins ở khoảng 40 quốc gia trên thế giới, bao gồm cả các nước phát triển và các nước đang phát triển trong thời kỳ 1995-1998, cho rằng các tổ chức hội và xã hội dân sự chiếm vị trí quan trọng cả về kinh tế, chính trị xã hội và thể chế trên thế giới. Theo quan điểm của tổ chức này, ngoài các định nghĩa về mặt luật pháp của các quốc gia khác nhau về hội (theo tài liệu gốc tiếng Anh là cụm từ “civil society organisation” - tổ chức xã hội dân sự), có 2 cách nhìn nhận về 8 các tổ chức hội cần xem xét: Một là, dựa vào nguồn tài chính của các tổ chức này.
Nguồn tài chính của các tổ chức hội chủ yếu là đóng góp cá nhân không phải do các giao dịch từ thị trường hay từ ngân sách nhà nước. Theo khái niệm này, các đặc điểm của các tổ chức hội như tính tự nguyện và tính phi lợi nhuận không được nhấn mạnh. Hai là, theo chức năng tổ chức, hội có các đặc trưng như sau: - Có cấu trúc và tổ chức hoạt động thường xuyên cho dù có được đăng ký chính thức hay không. Nghĩa là hội bao gồm cả các tổ chức phi chính thức, nằm ngoài khu vực nhà nước và thị trường.
- Có thể nhận tiền từ nhà nước, nhưng không phải là một bộ phận của nhà nước. - Không vì mục tiêu lợi nhuận: hội có thể làm ra lợi nhuận nhưng không để phân phối cho cá nhân như chủ sở hữu, giám đốc. - Tự quản nghĩa là hội có quyền tự xây dựng cơ chế hoạt động, tự chấm dứt hoạt động và kiểm soát các vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của hội. - Tự nguyện: tham gia làm thành viên của hội là hoàn toàn tự nguyện không theo đòi hỏi của pháp luật hoặc cưỡng chế bởi bất cứ ai.
Theo cách nhìn nhận này, hội sẽ không bao hàm các đảng phái chính trị [21]. Ở Việt Nam, nhận thức về hội hiện nay còn nhiều tranh luận, chưa thực sự thống nhất. Trong một thời gian dài, cùng với khái niệm “Xã hội dân sự”, hội được coi là vấn đề khá nhạy cảm, nên chưa được nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Điều này dẫn đến những cách nhìn phiến diện, thiếu tích cực về vị trí, vai trò của hội trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về hội trong bối cảnh đất nước ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ xã hội và hội nhập quốc tế, nhất là triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 là điều cần thiết. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý đều cho rằng hội là một trong những thành tố của “Xã hội dân sự”. Vì vậy, việc nghiên cứu khái niệm về hội cũng như các vấn đề liên quan đến hội cần phải đặt trong tổng thể 9 của một tập hợp các chủ thể xã hội dưới khái niệm chung là “Xã hội dân sự”; đồng thời cần xem xét quan hệ của “hội” với tư cách là một thành tố trong “Xã hội dân sự” với các thành tố khác. Do đó có thể thấy rằng, việc đưa ra khái niệm về hội hết sức khó khăn, do những đặc thù như sau: Thứ nhất, về mặt ngôn ngữ, hội là từ được quen dùng ở Việt Nam để chỉ các tổ chức quần chúng, khi mà trong các văn bản của Đảng và các sách báo xuất bản trước đây chúng ta vẫn thường thấy xuất hiện cụm từ “hội quần chúng”.
Dịch ra tiếng Anh, hội sẽ tương đương với “Association”, nhưng khi tìm hiểu khái niệm này nội hàm của hội theo cách hiểu ở Việt Nam không đồng nhất với nội hàm của khái niệm “Association”. Trong khi đó, các nước trên thế giới khi nói đến khu vực xã hội dân sự, người ta thường nhắc tới tổ chức phi chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận, dù ở mỗi quốc gia có cách định nghĩa và diễn giải khác nhau. Thứ hai, về cách tiếp cận khái niệm, hội được thế giới xem xét, nhìn nhận là một trong những thành tố của “Xã hội dân sự” trong mối quan hệ với nhà nước, thị trường. Trong khi đó, ở nước ta, hội được coi là một trong những thành tố của hệ thống chính trị, bao gồm: Đảng, nhà nước, Mặt trận, các đoàn thể nhân dân và các hội quần chúng.
Với nhận thức như trên, hội theo cách hiểu của ở Việt Nam không bao gồm các nhóm và tập thể tự nguyện khác do nhân dân tự nguyện bột phát, tức thời lập ra (các nhóm đó không có điều lệ, không có đóng góp vật chất, sức lực, trí tuệ, không có hệ thống tổ chức thống nhất, cố kết không chặt chẽ và không thường xuyên hành động). Trong khi đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và 5 tổ chức quần chúng trực thuộc (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) cũng là các hội quần chúng tự nguyện, nhưng được tổ chức theo các nguyên tắc chặt chẽ hơn, quan hệ chặt chẽ và trực tiếp hơn với đảng cầm quyền, chịu sự lãnh đạo 10 và chỉ đạo trực tiếp của đảng cầm quyền, làm nòng cốt trong mọi hoạt động và tổ chức của các hội quần chúng. Theo quan niệm của Việt Nam, hội không bao gồm đảng chính trị và các tổ chức tôn giáo. Hiện nay, Nghị định số 45/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội chỉ điều chỉnh đối với những hội có tư cách pháp nhân, có hội viên.
Các tổ chức như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; các tổ chức giáo hội không thuộc sự điều chỉnh của quy định về hội [5]. Tuy nhiên, các tác giả Việt Nam vẫn chưa thực sự đồng thuận với quan niệm này của các nhà làm luật. Một số ý kiến cho rằng hội nên được hiểu bao gồm các quỹ, trung tâm, viện nghiên cứu. (trừ các quỹ, trung tâm do hội lập ra), các tổ chức phi chính phủ hay không? Trong khi có ý kiến cho rằng hội bao gồm cả hội có hội viên và hội không có hội viên (các quỹ, trung tâm, viện nghiên cứu.) thì hầu hết các ý kiến khác lại đề xuất khái niệm, đặc trưng của hội có thêm yếu tố là có hội viên.
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về hội như sau: Hội là tổ chức liên kết tự nguyện của nhân dân với sự tham gia chính thức của ít nhất ba cá nhân hoặc tổ chức, hoạt động thường xuyên, không vì mục đích lợi nhuận, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội, hội viên hoặc vì lợi ích công cộng. Hội bao gồm hội có tư cách pháp nhân và hội không có tư cách pháp nhân. Trên cơ sở các đặc điểm của hội, hội có bốn tính chất như sau: Một là, tính tự nguyện, bất kỳ hội nào được lập ra đều xuất phát dựa trên ý chí, nguyện vọng của mỗi cá nhân, tự do khỏi mọi sự ép buộc. Dấu hiệu đặc trưng này thể hiện quyền tự do của cá nhân trong việc tham gia hoặc không tham gia một tổ chức hội nhất định.
Một tổ chức được thành lập do có sự ép buộc các cá nhân tham gia không thể được coi là tổ chức hội. Sau khi 11 hội được thành lập, cá nhân, tổ chức có thể tự nguyện xin vào và cũng có thể tự nguyện xin ra khỏi hội. Tính chất tự nguyện còn được biểu hiện trong việc lựa chọn mục tiêu, nội dung hoạt động theo nguyện vọng, sở thích, sở trường của tập thể hội viên. Tính chất tự nguyện của hội chính là biểu hiện tính tích cực xã hội của các thành viên trong xã hội nhằm thực hiện nhu cầu, lợi cích của mình, biếu lộ sự đóng góp của mình với xã hội.
Tính chất tự nguyện của hội bền vững tới mức độ trở thành một trong những nguyên tắc hoạt động nội bộ và hoạt động quan hệ đối ngoại của tất cả các hội. Nhờ tính chất này, các hội dễ liên hiệp với nhau, hợp tác với nhau và cũng dễ tách khỏi nhau khi không thống nhất nội dung phối hợp. Tính chất tự nguyện của hội cũng là một trong những sự khác biệt giữa nó với các tổ chức nhà nước. Hai là, tính tự quản, là biểu hiện của cách thức quản lý của mỗi tổ chức hội.
Mô hình tổ chức tự quản được hiểu là các hội viên của hội tự quyết định cách thức quản lý của tổ chức mà mình tham gia thông qua Điều lệ của tổ chức, mà không có sự can thiệp từ bên ngoài, dù cho đó có thể là cơ quan nhà nước hoặc nhà tài trợ.