Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về Quản lý hệ thống phân phối sản phẩm ở doanh nghiệp Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu Chương 3:Thực trạng hoạt động Quản lý hệ thống phân phối Giấy Bãi Bằng của Tổng công ty Giấy Việt Nam - VINAPACO Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác Quản lý hệ thống phân phối Giấy Bãi Bằng của Tổng công ty Giấy Việt Nam. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG PHÂN PHỐI SẢN PHẨM Ở DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các giải pháp nhằm phát triển hệ thống phân phối hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và một số nghiên cứu về lĩnh vực phân phối, tiêu thụ sản phẩm Giấy nói riêng. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu về tiêu thụ sản phẩm; nâng cao hiệu quả hệ thống phân phối; kênh phân phối sản phẩm giấy nhƣng chƣa có nghiên cứu toàn diện nào.
Luận văn thạc sỹ của tác giả Bùi Thị Quỳnh Trang (2008):“Ngành giấy Việt Nam trước những thách thức hội nhập kinh tế khu vực” đã chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, nguy cơ và thách thức của ngành Giấy Việt Nam. Nghiên cứu đã nêu lên thực trạng về chất lƣợng Giấy của ngành Giấy Việt Nam, trong đó nghiên cứu cũng đề cập nhiều về những điểm yếu của Ngành Giấy Việt Nam về toàn bộ hệ tiêu thụ sản phẩm, tuy nhiên hệ thống tiêu thụ sản phẩm cũng chỉ là khía cạnh nhỏ của nghiên cứu này. Luận văn thạc sỹ của tác giả Hà Thế Anh (2009): “Một số giải pháp về Marketing để nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Giấy Việt Nam” đã nêu rõ cơ sở lý luận của hoạt động marketing, thực trạng của công tác marketing tại Tổng công ty Giấy Việt Nam. Trong đó, nghiên cứu cho biết công tác phân tích thị trƣờng còn yếu, hệ thống phân phối còn chƣa hiệu quả, nhất là các đại lý.
Khó kiểm soát đƣợc hoạt động của các đại lý do phạm vi bao phủ về địa lý rộng. Sự phân bố hệ thống phân phối của Tổng công ty không đồng đều ở các khu vực. Chƣa tận dụng hết tiềm năng và cơ hội của thị trƣờng; hoạt động quảng cáo và xúc tiến bán hàng của Tổng công ty chƣa đƣợc coi trọng và đầu tƣ thoả đáng, đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty không nhƣ mong đợi. Bài báo của Hƣơng Nguyễn Vinane “Ngành giấy Việt Nam trước hiệp định thương mại FTA”.
Từ trƣớc đến nay, thực trạng của ngành giấy vẫn là nhiều doanh 4 nghiệp nhỏ lẻ, sản phẩm không đạt chất lƣợng, phụ thuộc vào hàng nhập khẩu. Vì thế, đứng trƣớc các Hiệp định Thƣơng mại tự do (FTA), nếu muốn tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp ngành giấy phải có những nỗ lực để thay đổi. Bài báo “Ngành giấy không tận dụng được nhiều cơ hội xuất khẩu với thế xuất 0%” Tin ngành giấy 01/01/2015 của Hải Yến - Chi hội II. Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam.
Bộ Công thƣơng cho biết, hiện nay, giấy sản xuất trong nƣớc chủ yếu phục vụ nhu cầu nội địa và xuất khẩu với số lƣợng rất nhỏ. Hơn nữa, sản lƣợng xuất khẩu 9 tháng năm 2015 giảm so với cùng kỳ năm ngoái. Cụ thể, trong 9 tháng, Tổng công ty Giấy xuất khẩu ƣớc đạt 21,9 triệu USD, giảm 8,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Sản xuất kinh doanh của ngành giấy mặc dù gặp nhiều khó khăn đặc biệt là việc nhập khẩu giấy thu hồi làm nguyên liệu sản xuất, cạnh tranh trên thị trƣờng, giá cả ngƣng trệ nhƣng ngành giấy đã nỗ lực để đảm bảo phát triển ổn định.
“Ngành Giấy – đối diện thách thức” của Việt Nga (Tạp chí Công Thƣơng, số 5- 2013) đã phân tích những thách thức ngành Giấy Việt Nam phải đối mặt khi cộng đồng kinh tế Asian đƣợc thành lập vào năm 2015. Cùng với đó, sản phẩm giấy xuất khẩu vào Việt Nam từ các nƣớc trong khu vực sẽ đƣợc hƣởng thuế 0% và làn sóng giấy nhập khẩu sẽ tràn vào Việt Nam mạnh mẽ. Các DN Giấy trong nƣớc hầu hết có dây chuyền công nghệ lạc hậu, hầu nhƣ xuất khẩu dăm mảnh thô và nhập khẩu bột giấy dẫn tới chi phí sản xuât tăng cao, khó cạnh tranh với các sản phẩm giấy nhập khẩu chất lƣợng cao hơn mà giá cả cạnh tranh. Nghiên cứu: “Assessing domestic a distribution channels of Viet Nam Paper Corporation in Phu Tho Province, Viet Nam” (2012) của tác giả Phạm Thanh Hùng là một nghiên cứu khá toàn diện về các kênh phân phối của Tổng công ty Giấy Việt Nam, nghiên cứu có cái nhìn bao hàm tổng thể về thực trạng hoạt động cũng nhƣ các chính sách quản lý các kênh phân phối, từ đó đƣa ra một số giải pháp để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của các kênh phân phối trong tiêu thụ sản phẩm nhƣ: cải thiện các chính sách hỗ trợ để đào tạo nhân lực cho các kênh phân phối bởi hầu hết các nhà bán buôn, bán lẻ không đƣợc đào tạo qua bất cứ trình độ nào về bán hàng và quản lý bán hàng,….
5 Nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Hƣơng “Một số đề xuất nâng cao hiệu quả hệ thống phân phối của Tổng công ty Giấy Việt Nam VINAPACO” đã cho thấy một bức tranh tổng thể về tầm quan trọng của hệ thống phân phối sản phẩm. Nghiên cứu đã chỉ ra những mặt đƣợc, những mặt chƣa đƣợc. Trong đó cần chú trọng hoàn thiện hơn tổ chức lƣu kho, bãi theo thƣơng thức hiện đại; cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình phân phối; xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các thành viên trong hệ thống phân phối…. Ngoài ra, còn phải kể đến các công trình nghiên cứu nhƣ:“Thị trường Giấy 6 tháng đầu năm 2014” (Viananet – Bộ Công Thƣơng) đã đƣa ra dự báo thị trƣờng giấy ở Việt Nam vẫn đƣợc đánh giá là có tiềm năng lớn vì dân số đông, mức tiêu thụ bình quân đầu ngƣời còn thấp so với thế giới.
Trong tƣơng lai, nhu cầu sử dụng giấy và các sản phẩm giấy sẽ tăng cao khi nền kinh tế phục hồi. Đây là cơ sở để ngành giấy Việt Nam nói chung và Tổng công ty giấy nói riêng cần tăng cƣờng mở rộng thị phần, tâng cƣờng tiêu thụ sản phẩm. Đề tài: “Chiến lược phát triển nguồn nguyên liệu Giấy ở Việt Nam” đề cập tới nhu cầu và khả năng cung ứng của các doanh nghiệp sản xuất giấy trong nƣớc, tình hình rừng nguyên liệu để sản xuất cũng nhƣ tình hình nhập khẩu bột giấy. Từ đó, đề xuất các giải pháp phát triển vùng nguyên liệu, hạn chế nhập khẩu bột giấy để giảm chi phí sản xuất.
Cũng đề cập đến chiến lƣợc phát triển ngành công nghiệp giấy Ngày 11-4, tại Hội nghị giới thiệu Paper Chem Vietnam 2012 tại TP. Hồ Chí Minh ông Vũ Ngọc Bảo – Tổng Thƣ ký Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam nhận định: “Chúng ta có một thị trƣờng tiêu thụ rộng lớn, với 88 triệu dân, tài nguyên rừng trù phú và có thể phát triển các vùng nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp giấy. Tuy nhiên những lợi thế này cho đến nay vẫn chƣa có chiến lƣợc phát triển hiệu quả, hoặc gặp rào cản về vốn, công nghệ. Theo ông Vũ Ngọc Bảo, hiện Việt Nam chƣa có chiến lƣợc cụ thể về thu hồi giấy loại.
Ƣớc tính, hiện trên cả nƣớc chỉ có khoảng 7% là giấy thu hồi và Việt Nam bị xếp vào danh sách các nƣớc thu hồi, tái chế giấy thấp nhất thế giới. "Bình thƣờng, giấy có thể sử dụng và tái chế lại khoảng 6 lần. Việc tái chế giấy giúp giảm khí thải độc hại ra môi trƣờng, tránh phải 6 chặt cây, chi phí chôn lấp. do đó cần phải coi thu hồi giấy là một chiến lƣợc của ngành công nghiệp giấy.
Trên thực tế, Nhật và Đức là 2 quốc gia hàng đầu trên thế giới về tái chế các sản phẩm từ giấy để phục vụ trở lại cho nhu cầu trong nƣớc, với năng lực thu hồi từ 70 – 80% giấy phế loại từ cộng đồng. Nhƣ vậy có thể thấy, họ là những nƣớc giàu nhƣng họ biết tiết kiệm tài nguyên, còn nƣớc ta dù nghèo nhƣng lại đang lãng phí rất nhiều tài nguyên”. Các chuyên gia trong và ngoài nƣớc cũng gợi ý ngành công nghiệp Việt Nam nên đầu tƣ vào mạng lƣới thị trƣờng theo phƣơng châm "Nguồn cung mạnh – Nguồn cầu cao”, từ đó tạo cơ hội cho việc thiết lập quan hệ, đầu tƣ dự án; tăng cƣờng sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp giấy và tính năng cạnh tranh quốc tế. Đây là định hƣớng để Tổng công ty Giấy đầu tƣ phát triển thị trƣờng tiêu thụ hơn nữa.
Mặc dù các nghiên cứu đã có những đóng góp nhất định về lý luận và thực tiễn, đã đƣa ra đƣợc những điểm mạnh, điểm yếu; hạn chế, tồn tại cũng nhƣ đề ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm giấy của Tổng công ty Giấy Việt Nam. Tuy nhiên, từ trƣớc đến nay trong các công trình nghiên cứu chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách chi tiết về “quản lý hệ thống phân phối giấy Bãi bằng của Tổng công ty Giấy Việt Nam”. Do đó, với mục đích nghiên cứu thực trạng quản lý hệ thống phân phối sản phẩm giấy trong thời gian qua để tìm ra những mặt đƣợc và chƣa đƣợc của công tác này tại VINAPACO, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý hệ thống phân phối giấy Bãi bằng cho Tổng công ty là mục tiêu của luận văn. Cơ sở lý luận về quản lý hệ thống phân phối trong doanh nghiệp 1.
Những vấn đề chung về hệ thống phân phối sản phẩm 1. Khái niệm về hệ thống phân phối sản phẩm Ngày nay, phần lớn các nhà sản xuất đều cung cấp hàng hóa của mình cho thị trƣờng thông qua những ngƣời trung gian. Tầng lớp trung gian này bao gồm những ngƣời bán buôn, bán lẻ, đại lý, môi giới, những đại diện của ngƣời bán và ngƣời mua và kể cả các công ty vận tải, các đại lý quảng cáo…có nhiệm vụ hỗ trợ cho hoạt động phân phối của doanh nghiệp. 7 Các quyết định về kênh phân phối là một trong những quyết định quan trọng nhất của các nhà quản lý.
Các kênh phân phối mà công ty lựa chọn sẽ ảnh hƣởng đến tất cả các quyết định Marketing khác. Vì vậy, mỗi nhà sản xuất đều cố gắng hình thành kênh phân phối riêng của mình một cách hiệu quả nhất.