CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong GD, nhân tố làm nên bộ mặt nhà trường, quyết định chất lượng GD toàn diện chính là đội ngũ GV, những người được xã hội giao phó trọng trách đào tạo thế hệ trẻ, người chủ tương lai của xã hội. Trong nhà trường phổ thông, GVCN có một vai trò hết sức quan trọng trong các hoạt động GD của nhà trường, trong việc hình thành và phát triển nhân cách của HS. Nói một cách khác, hình ảnh GVCN trong trường phổ thông là linh hồn của lớp học, là người lĩnh xướng của dàn nhạc giao hưởng hình thành nhân cách toàn vẹn cho thế hệ trẻ.
Như vậy có thể thấy rõ tầm quan trọng của GVCN trong các hoạt động GD toàn diện của nhà trường phổ thông. Sự phát triển của nhà trường gắn liền với sự tiến bộ và trưởng thành của từng tập thể lớp học, gắn liền với sự tiến bộ và trưởng thành của đội ngũ GV, đặc biệt là đội ngũ GVCN. Khi đề cập đến công tác GVCNL đã có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, có thể kể đến các công trình tiêu biểu như: Giáo dục học 2004 (Chương XVI, Người giáo viên chủ nhiệm) của Phạm Viết Vượng - Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội; Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường Trung học phổ thông của Hà Nhật Thăng (chủ biên) - Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2004; Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông của Hà Nhật Thăng (chủ biên) - Nhà xuất bản Giáo dục, 2005; Những tình huống giáo dục học sinh của người giáo viên chủ nhiệm của Hà Nhật Thăng (chủ biên) - Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2000; Công tác giáo viên chủ nhiệm ở trường phổ thông - Nhà xuất bản 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giáo dục, 1998; Kỷ yếu hội thảo - Công tác giáo viên chủ nhiệm ở trường phổ thông - Nhà xuất bản Giáo dục, 2010. Tác giả Nguyễn Thanh Bình với công trình: Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT đề tài mã số SPHN - 09 - 465 NCSP, 2010, cũng như cuốn Một số vấn đề trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT hiện nay - Nhà xuất bản ĐHSP, 2011.
Ở đây các tác giả đề cập đến những vấn đề cơ bản của công tác CNL và những nội dung trong công tác CNL ở trường THPT hiện nay từ góc nhìn của chuẩn nghề nghiệp GV trung học; Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung cũng thể hiện quan điểm của mình trong đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên sư phạm (Kỷ yếu hội thảo khoa học - Nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên các trường Đại học sư phạm, 2010). Một số tác giả còn đi sâu vào nghiên cứu những khía cạnh khác có liên quan đến công tác chủ nhiệm như Nguyễn Thanh Bình với tác phẩm Giáo dục kỹ năng sống - Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội, 2007; Nguyễn Thị Kim Dung và cộng sự Hướng dẫn tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (Tài liệu dành cho lớp 11); Nguyễn Thị Kim Dung với đề tài Rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm của học sinh tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp - 2007, mã số: B2006 - 17 - 01 - 2007. Một số không nhiều bài báo, tài liệu khác viết về công tác GVCNL như: Rèn luyện một số kỹ năng làm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên Cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh. Tạp chí Giáo dục số 126 (11/2005); Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên Cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh - Tạp chí Giáo dục số 135 (kỳ 1 - 4/2006).
Cụ thể hơn nữa với đề tài về nghiên cứu các biện pháp QL công tác CNL thì có Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp tại trường Trung học phổ thông Mạc Đĩnh Chi, quận Dương Kinh, Hải Phòng của Ngô Thị Chuyên, 2009; Biện pháp quản lý, bồi dưỡng công tác chủ nhiệm lớp cho giáo viên trường Trung học phổ thông Yên Hòa, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay của Đàm Liên Quân, 2012. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Hà Nội, công tác CNL cũng được Ban lãnh đạo Sở GD&ĐT Hà Nội cũng như Hiệu trưởng và GV các trường rất quan tâm song mới chỉ được chỉ đạo và thực hiện dựa trên kinh nghiệm cá nhân chứ chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về QL công tác GVCNL, đặc biệt là QL công tác GVCNL ở các trường chuyên. Vì vậy trong khuôn khổ của luận văn này, trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu đã có, kết hợp với thực tiễn và kinh nghiệm công tác của mình ở trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam, tôi đã chọn đề tài “Quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp tại trường Trung học phổ thông chuyên Hà Nội - Amsterdam” để nghiên cứu trong luận văn của mình. Những khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý, quản lý giáo dục 1. Những khái niệm quản lý, chức năng quản lý * Khái niệm quản lý Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, con người muốn tồn tại và phát triển cần phải có sự phối hợp với nhau trong một nhóm, một tổ chức. Để tổ chức, điều khiển tạo nên sự phối hợp của nhóm người hoạt động theo yêu cầu nhất định, một loại hình lao động mới xuất hiện - đó là hoạt động QL. Có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về nội dung, thuật ngữ “quản lý”, có thể nêu một số định nghĩa như sau: - Quản lý xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những qui luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra.
(Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin) - Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất. (William - Taylor) - Quản lý là sự tác động của cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý, tạo ra sự chuyển biến của toàn bộ hệ thống, hướng vào mục tiêu nhất định (giáo trình Quản lý - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Quản lý là dạng lao động đặc biệt của người lãnh đạo, mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết các bộ máy thành chỉnh thể thống nhất, điều hoà, phối hợp các khâu, các cấp quản lý, hoạt động nhịp nhàng để tạo hiệu quả quản lý. (Mai Hữu Khuê - Học viện Hành chính quốc gia) - Quản lý là một hệ thống xã hội mang tính khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu đã đề ra. - Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.
Cũng theo đó các tác giả còn phân định rõ hơn về hoạt động QL: là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. [5] Như vậy có thể khái quát: Quản lý là cách thức tác động (sự tác động có tổ chức, có mục đích…) của chủ thể quản lý lên chủ thể bị quản lý bằng các chế định xã hội, bằng tổ chức và nhân lực, tài lực và vật lực, phẩm chất, uy tín của cơ quan quản lý hay người quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục đích trong điều kiện môi trường luôn biến động. Các nhà nghiên cứu về QL đã đưa ra nhiều đề xuất về nội dung của các chức năng QL chung: - F.Taylor (1856-1915) và Henrry Fayol (1841-1925) đưa ra năm chức năng QL: kế hoạch hoá - tổ chức - chỉ huy - phối hợp - kiểm tra. - Theo sách giáo khoa của trường Đảng cao cấp Liên Xô (cũ) có nêu ra 6 chức năng QL chung: soạn thảo mục tiêu - kế hoạch hoá - tổ chức - phối hợp - động viên - kiểm tra.
- Theo tài liệu tập huấn CBQL GD của UNESCO đề ra 7 chức năng: kế hoạch hoá - tổ chức - bố trí biên chế - chỉ đạo - phối hợp - tổng kết - quyết toán ngân sách. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Chức năng quản lý Xét theo quá trình QL có bốn chức năng cơ bản mà người QL dù ở cấp độ QL nào cũng phải thực hiện, đó là: - Chức năng kế hoạch: là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các biện pháp tốt nhất để đạt các mục tiêu đó. Nội dung thực hiện chức năng kế hoạch là: + Phân tích bối cảnh, xác định mục tiêu phát triển tổ chức; + Lập các kế hoạch thực hiện mục tiêu; + Triển khai thực hiện kế hoạch; + Đánh giá, điều chỉnh kế hoạch (nếu cần). - Chức năng tổ chức: là quá trình tiếp nhận, phân phối, sắp xếp các nguồn lực tạo ra một cơ cấu tổ chức thích hợp đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu đề ra để tổ chức phát triển.
Nội dung chức năng tổ chức bao gồm: + Xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lý và năng động, phù hợp với yêu cầu thực thi nhiệm vụ; + Xây dựng, phát triển đội ngũ đảm bảo yêu cầu của tổ chức; + Xác lập mối quan hệ và cơ chế hoạt động; + Tổ chức công việc khoa học. - Chức năng chỉ đạo: là quá trình tác động, ảnh hưởng tới hành vi thái độ của cấp dưới thông qua các hoạt động hướng dẫn, giúp đỡ, đôn đốc, động viên và thúc đẩy những người dưới quyền làm việc với hiệu quả cao nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.