Chương 1 về cơ sở lý luận, trong phần này tác giả đã nghiên cứu về các nội dung các khái niệm cơ bản của đề tài như GD, quản lý GD, quản lý nhà trường, quản lý trường mầm non và mục tiêu, nội dung, phương pháp GD mầm non. Trên cơ sở đó, tác giả xác định các nội dung công tác quản lý của Hiệu trưởng trường 10 mầm non trong hoạt động chăm sóc và GD trẻ như nguyên tắc quản lý trường mầm non, phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý, công tác xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động GD trẻ; công tác chỉ đạo hoạt động GD trẻ; công tác tổ chức các hoạt động GD trẻ và công tác kiểm tra, đánh giá các hoạt động GD trẻ. Chương 2 của đề tài đề cập đến các nội dung như khái quát hoạt động khảo sát có mục tiêu khảo sát, nội dung, phương pháp, đối tượng, thời gian khảo sát. Thực trạng hoạt động GD trẻ tại thành phố Quảng Ninh về mục tiêu của hoạt động GD, nội dung, phương pháp, hình thức hoạt động GD.
Thực trạng quản lý hoạt động GD trẻ mầm non thành phố Hạ Long về thực trạng công tác xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động GD trẻ; công tác chỉ đạo hoạt động GD trẻ; công tác tổ chức các hoạt động GD trẻ và công tác kiểm tra, đánh giá các hoạt động GD trẻ. Luận văn đề một số biện pháp như nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên trường mầm non, nâng cao năng lực GD trẻ cho đội ngũ giáo viên mầm non và nhóm bổ trợ. Luận văn đã đánh giá kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất. Các nghiên cứu trên đã nghiên cứu về biện pháp, hoạt động GD trẻ em mầm non tại các trường mầm non nói chung.
Các tác giả cũng đưa ra những biện pháp tổ chức và quản lý hoạt động GD trẻ của riêng mình, tuy nhiên chỉ dựa trên góc độ tổng quát, chưa nêu cụ thể ở từng trường, từng địa phương. Đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc về quản lý hoạt động GD theo hướng TN cho trẻ MG ở các trường mầm non. Vì vậy, việc thực hiện đề tài này sẽ không trùng lắp, đảm bảo tính độc lập và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động GD theo hướng TN cho trẻ MG ở các trường mầm non huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nói riêng. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý do các tác giả nước ngoài và trong nước đưa ra, tuy nhiên trong phạm vi của đề tài, tác giả tiếp cận một số cách quan niệm về quản lý sau: Harold Koontz, người được coi là cha đẻ của quản lý hiện đại, đã viết: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực các nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi chủ thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [22]. 11 Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nhằm đạt được những mục tiêu dự kiến” [23] Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song có thể hiểu một cách khái quát: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức đế đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường”. Quản lý GD Trong lịch sử phát triển của khoa học thì khoa học quản lý giáo dục ra đời muộn hơn khoa học quản lý kinh tế.
Vì thế, trong các nước Tư bản chủ nghĩa người ta thường vận dụng lý luận quản lý một xí nghiệp vào quản lý cơ sở giáo dục (trường học) và coi quản lý cơ sở giáo dục như quản lý một xí nghiệp đặc biệt. Ở Việt Nam, Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạ của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [23, tr. Từ các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu khái quát như sau: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau, đến tất cả các khâu, các bộ phận của hệ thống giáo dục, nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống vận hành tối ưa. Đảm bảo sự phat triển mở rộng cả về số lượng và chất lượng để đạt tới mục tiêu giáo dục”.
Trải nghiệm Có nhiều cách gọi khác nhau về HĐTN. Trong phạm vi luận văn có thể đề cập một số khái niệm sau: Hoạt động TN trong nhà trường cần được hiểu là hoạt động có động cơ, có đối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng các việc làm cụ thể của HS, được thực hiện trong thực tế, được sự định hướng, hướng dẫn của nhà trường. Đối tượng để TN nằm trong thực tiễn. Qua TN thực tiễn, người học có được kiến thức, kỹ năng, tình cảm và ý chí nhất định.
Sự sáng tạo sẽ có được khi phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn phải vận dụng kiến thức, kỹ năng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống mới, không theo chuẩn đã có, hoặc nhận biết được vấn đề trong các tình huống tương tự, độc lập nhận ra chức năng mới của đối tượng, tìm kiếm và 12 phân tích được các yếu tố của đối tượng trong các mối tương quan của nó, hay độc lập tìm kiếm ra giải pháp thay thế và kết hợp được các phương pháp đã biết để đưa ra hướng giải quyết mới cho một vấn đề. Trong Chương trình GD phổ thông 2018, hoạt động GD (theo nghĩa rộng) bao gồm hoạt động dạy học và hoạt động TN. Việc gọi tên khác cho hoạt động ngoài giờ lên lớp ở CTGD PT 2018 không chỉ là vì nội hàm triết lý của hoạt động đó đã thay đổi mà còn thể hiện một cách tiếp cận mới trong GD nhằm hình thành và phát triển năng lực cho học sinh, đó là dưới sự hướng dẫn của nhà GD, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân. Qua nghiên cứu các tài liệu triết học, có thể thấy được một số cách để định nghĩa về TN: + TN là một phạm trù của triết học, được đúc rút từ toàn bộ các hoạt động của con người ở mọi mặt, như một thể thống nhất giữa kiến thức, kỹ năng, tình cảm và ý chí.
Đặc trưng bằng cơ chế kế thừa di sản xã hội, lịch sử, văn hóa. + TN là một phạm trù của nhận thức luận, được đúc kết từ sự thống nhất của hoạt động tình cảm - nhận thức. + TN là kiến thức mà ngay lập tức cho chủ thể ý thức được và có cảm giác tiếp xúc trực tiếp với thực tế, cho dù đó là một thực tế bên ngoài của các đối tượng và tình huống (nhận thức), hoặc các thực tại của trạng thái ý thức (quan niệm, những kỷ niệm, xúc động…). TN dưới góc nhìn sư phạm được hiểu theo một vài ý nghĩa sau: + TN trong đào tạo là một hệ thống kiến thức và kỹ năng có được trong quá trình GD và đào tạo chính quy; + TN là kiến thức, kỹ năng mà trẻ nhận được bên ngoài các cơ sở GD: thông qua sự giao tiếp với nhau, với người lớn, hay qua những tài liệu tham khảo không được giảng dạy trong nhà trường… + TN (qua thực nghiệm, thử nghiệm) là một trong những phương pháp đào tạo, trong điều kiện thực tế hay lý thuyết nhất định, để thiết lập hoặc minh họa cho một quan điểm lý luận cụ thể.
Một số quan niệm khác của các học giả quốc tế cho rằng GD TN coi trọng và 13 khuyến khích mối liên hệ giữa các bài học trừu tượng với các hoạt động GD cụ thể để tối ưu hóa kết quả học tập (Sakofs, 1995); học từ TN phải gắn kinh nghiệm của người học với hoạt động phản ánh và phân tích (Chapman, McPhee and Proudman, 1995); chỉ có kinh nghiệm thì chưa đủ để được gọi là TN; chính quá trình phản ánh đã chuyển hóa kinh nghiệm thành TN giáo. Theo Đinh Thị Kim Thoa trong cuốn Kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động TN sáng tạo trong trường trung học [10, tr.19], hoạt động TN là “hoạt động GD thông qua sự TN của cá nhân trong việc kết nối kinh nghiệm học được trong nhà trường với thực tiễn đời sống mà nhờ đó các kinh nghiệm được tích lũy thêm và chuyển hóa dần thành năng lực”. Theo Bùi Ngọc Diệp trong cuốn Một số vấn đề chung về hoạt động TN sáng tạo trong trường phổ thông [13, tr.16], hoạt động TN là “một biểu hiện của hoạt động GD đang tồn tại trong chương trình GD hiện hành. Hoạt động TN sáng tạo là hoạt động mang tính xã hội, thực tiễn đến với môi trường GD trong nhà trường để học sinh tự chủ TN trong tập thể, qua đó hình thành và thể hiện được phẩm chất, năng lực, nhận ra năng khiếu, sở thích, đam mê, bộc lộ và điều chỉnh cá tính, giá trị; nhận ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển của bản thân; bổ trợ cho và cùng với các hoạt động day học trong chương trình GD thực hiện tốt nhất mục tiêu GD.
Hoạt động này nhấn mạnh sự TN, thúc đẩy năng lực sáng tạo của người học và được tổ chức thực hiện một cách linh hoạt sáng tạo”. Theo Nguyễn Thị Thu Hoài (2010) trong cuốn “Tổ chức hoạt động GD TN sáng tạo giải pháp phát huy năng lực” [12, tr.56], hoạt động TN là “hoạt động xã hội, thực tiễn giúp học sinh tự chủ TN trong tập thể, qua đó hình thành và thể hiện phẩm chất năng lực; nhận ra năng khiêu, sở thích, đam mê, bộc lộ và điều chỉnh cá tính, giá trị, nhận ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển bản thân; bổ trợ và cùng với các hoạt động dạy học trong chương trình GD thực hiện tốt nhất mục tiêu GD.