Chương 1. Cơ sở lý luận về GDTC và quản lý công tác GDTC. Thực trạng quản lý công tác GDTC cho SV Trường Đại học Nội vụ Hà Nội. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác GDTC cho SV Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC THỂ CHẤT VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC THỂ CHẤT 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Giáo dục thể chất Thuật ngữ Giáo dục thể chất (GDTC) đã có từ lâu trong ngôn ngữ nhiều nước nhưng ở Việt Nam thuật ngữ này bắt nguồn từ gốc Hán – Việt nên cũng có người gọi tắt GDTC là TDTT theo nghĩa hẹp, vì theo nghĩa rộng của từ Hán – Việt cũ thì thể dục còn có nghĩa là TDTT. Thông thường, người ta coi GDTC là một bộ phận của TDTT, là một trong những hình thức hoạt động cơ bản có định hướng rõ của TDTT trong xã hội, một quá trình có tổ chức để truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục – giáo dưỡng chung (chủ yếu trong các nhà trường).
Theo từ điển TDTT Nga – Việt của tác giả Nguyễn Văn Hiếu thì <GDTC được hiểu là một loại hình giáo dục lấy nhiệm vụ chỉ yếu là phát triển thể lực, tăng cường thể chất làm chính thông qua việc tham gia các môn thể thao để thực hiện= [36, tr. Theo các nhà lý luận TDTT của Liên Xô (cũ) như: Nôvicốp A.P thì cho rằng <GDTC là hoạt động cơ bản có định hướng TDTT trong xã hội, là một quá trình tổ chức để truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục, giáo dưỡng chung ở nhà trường các cấp= [37]. Trong Luật TDTT, GDTC trong trường học được định nghĩa <là môn học chính khóa thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện= [28. Theo quan điểm của các nhà lý luận và phương pháp TDTT của Việt Nam như: Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn thì cho rằng: <GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con người.
Trong đó, dạy học động tác (còn gọi là giáo dưỡng thể chất) là quá trình truyền thụ và tiếp thu có hệ thống những cách 15 thức điều khiển hợp lý sự vận động của con người, qua đó hình thành những kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản cần thiết và những hiểu biết có liên quan. Phát triển các tố chất vận động của con người chính là sự tác động có chủ đích đến sự phát triển theo định hướng các tố chất thể lực nhằm nâng cao sức lực vận động của con người= [35, tr. Từ quan điểm của các tác giả nêu trên, theo chúng tôi thì GDTC là một quá trình sư phạm, là hoạt động giáo dục bắt buộc trong nhà trường được tổ chức có mục đích, có kế hoạch nhằm trang bị cho người học các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen tập luyện TDTT nhằm nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. Quản lý Trong xã hội loài người hay thế giới tự nhiên luôn có sự sắp xếp phân công, hợp tác, điều chỉnh để điều hòa ổn định các hoạt động của mọi thành viên.
Theo đó, quản lý là kết quả của sự phân công, hợp tác trong lao động, nó tác động có hướng đích, có sự vận dụng quy luật khách quan và con người tác động có chủ đích, có kế hoạch và có ý thức. Khi phương thức sản xuất phát triển hơn, con người tiến bộ và văn minh hơn thì trình độ quản lý cũng được nâng cao, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Trải qua quá trình phát triển thì khái niệm quản lý cũng được tiếp cận theo các góc độ khác nhau. Cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định xã hội là một hệ thống phức tạp và phát triển theo quy luật khách quan.
Để đi đúng quy luật khách quan đó cần có sự quản lý. Mác khẳng định: <Bất cứ hoạt động xã hội hay lao động chung nào mà được tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân. Sự chỉ đạo đó phải làm một chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh sự khác nhau giữa sự vận động chung của một cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những cơ quan độc lập tạo thành cơ thể sản xuất đó. Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng=.
Theo Mác, quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những cá nhân khác nhau 16 của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và sự vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra [15]. Theo Frederik Winslon Taylor (1856-1915) – người được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học lại cho rằng <Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất=. Đồng thời, ông nhấn mạnh sự cần thiết trong hoạt động quản lý là một công việc dù là nhỏ nhất đều cần phải chuyên môn hóa và đều phải quản lý chặt chẽ [26]. Theo các chuyên gia về lĩnh vực quản lý nhà nước thì <Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đề ra và đúng ý trí của người quản lý= [25].
Trong khi các chuyên gia về quản lý giáo dục thì cho rằng <Quản lý là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo một quy luật để đạt được những mục tiêu dự kiến=[33]. Theo quan điểm của các nhà quản lý TDTT thì <quản lý là sự tác động liên tục mang tính hướng đích và có kế hoạch của chủ thể lên khách thể nhằm tổ chức và phối hợp các hoạt động của khách thể để thực hiện các mục tiêu đã đề ra=. Mặc dù có nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau về quản lý, nhưng nhìn chung thì các quan điểm, khái niệm nêu trên đều có điểm thống nhất chung đó là: Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có kế hoạch phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý để đạt được mục tiêu quản lý. Quản lý công tác Giáo dục thể chất Quản lý TDTT nói chung và quản lý GDTC nói riêng là một bộ phận không thể thiếu được của quản lý xã hội.
Do đó, quản lý GDTC cũng mang đầy đủ đặc tính của quản lý: <Quản lý GDTC là sự tác động liên tục mang tính mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu GDTC đã đề ra= [38]. 17 Quản lý công tác GDTC là một trong những nội dung quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. Thông qua quá trình sư phạm, để trang bị về kiến thức, kỹ năng vận động thể lực, ý trí, đạo đức, tác phong và một số yếu tố tinh thần khác nhằm hoàn thiện về hình thái chức năng cơ thể, hình thành các kỹ năng kỹ xảo vận động cơ bản, phát triển thể lực và các phẩm chất, xây dựng lối sống lành mạnh, khắc phục những thói quen xấu. Với cách tiếp cận của đề tài thì chúng tôi sử dụng khái niệm <Quản lý GDTC là sự tác động liên tục mang tính mục đích, tính kế hoạch của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm nâng cao chất lượng GDTC cho SV theo đúng nguyên tắc, đúng mục tiêu và phù hợp với xu thế phát triển của xã hội= làm công cụ giải quyết các nhiệm vụ của đề tài [39].
Như vậy, quản lý công tác GDTC cho SV là quản lý về mục tiêu, nội dung, chương trình GDTC, quản lý hoạt động dạy - học của giảng viên và SV; quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập, kết quả rèn luyện thể chất của SV; quản lý cơ sở vật chất, các trang thiết bị, các phương tiện và các điều kiện khác phục vụ công tác GDTC. Do đó, để công tác GDTC đạt hiệu quả thì người quản lý cần nắm vững cơ sở lý luận về quản lý chung, quản lý công tác GDTC và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác GDTC, trên cơ sở đó để vận dụng và đưa ra những biện pháp quản lý hiệu quả, phù hợp với thực tiễn nhằm nâng cao được chất lượng và hiệu quả của công tác GDTC trong nhà trường. Quản lý công tác GDTC cho SV là một hoạt động có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức của nhà quản lý nhằm điều khiển, hướng dẫn quá trình GDTC, những hoạt động của viên chức, giảng viên và SV khi tham gia vào quá trình GDTC, cơ sở vật chất và các nguồn lực đảm bảo để thực hiện có hiệu quả chương trình, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức GDTC cho SV theo kế hoạch đã xác định. Công tác GDTC cho sinh viên 1.
Mục đích của GDTC cho sinh viên Chủ nghĩa Mác – Lê nin luôn xác định và đặt đúng vị trí của GDTC đối với thế hệ trẻ, trong đó có SV. Theo đó, GDTC là một trong 5 mặt giáo dục, là phương tiện để đào tạo nhân cách, phát triển toàn diện con người. 18 Mục đích của GDTC cho SV là góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý kinh tế và văn hoá xã hội có thể chất cường tráng, cơ thể phát triển hài hoà cân đối, có tri thức và tay nghề cao, có nhân cách của con người Việt Nam, đáp ứng được yêu cầu chuyên môn, nghề nghiệp và có khả năng tiếp cận với thực tiễn lao động, sản xuất… của nền kinh tế thị trường. Với mục đích đặt ra trong GDTC cho SV thì chúng ta thấy GDTC có vai trò to lớn trong sự nghiệp giáo dục đại học.