ĐẶT VẤN ĐỀ Hoạt động thể lực (HĐTL) là những chuyển động của cơ thể đƣợc thực hiện bởi cơ xƣơng và tiêu hao năng lƣợng; bao gồm những hoạt động đƣợc thực hiện trong khi làm việc, khi di chuyển, làm các công việc gia đình, đi du lịch, giải trí, thể dục thể thao (1). Hoạt động thể lực là một trong những giải pháp hiệu quả để nâng cao sức khỏe và phòng, chống bệnh tật (2). Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã có nhiều hoạt động kêu gọi các quốc gia hành động vì sức khỏe của ngƣời dân và đƣa ra khuyến cáo chung về hoạt động thể lực cho từng độ tuổi (3). Thiếu hoạt động thể lực là tình trạng không đủ hoạt động theo khuyến cáo của WHO cho từng độ tuổi khác nhau (4).
Hiện nay, tỷ lệ thiếu hoạt động thể lực trên thế giới vẫn đang trong tình trạng báo động, khoảng 23% ngƣời trƣởng thành trên 18 tuổi thiếu hoạt động thể lực (5). Thiếu hoạt động thể lực là một trong những nguyên nhân gây ra 1,9 triệu ca tử vong mỗi năm trên toàn thế giới (6,7), là yếu tố đứng thứ tƣ trong nhóm nguy cơ hàng đầu gây tử vong toàn cầu (5). Tại Việt Nam, theo báo cáo điều tra Quốc gia yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm (BKLN) năm 2015, có tới 28,1% dân số ở độ tuổi 18 - 69 thiếu HĐTL. Trong đó, nhóm 18 - 29 tuổi có tỷ lệ thiếu HĐTL cao nhất (33,4%) (8).
Đặc biệt, thanh niên là lực lƣợng trẻ nhƣng lại rất ít vận động. Tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi 16 - 24 thƣờng xuyên tập thể thao rất thấp (5,9% - 8,4% và 21,4% - 21,9%) (9). Khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại Việt Nam năm 2019 cho thấy, tỷ lệ học sinh thiếu HĐTL là 75,9%, tỷ lệ đủ HĐTL chỉ đạt 24,1% (10). Có tới 47,8% sinh viên (SV) ngành Y tại Trƣờng Đại học Y Dƣợc Huế thiếu HĐTL vào năm 2018 (11).
Chiều cao trung bình của ngƣời Việt Nam cũng thấp hơn (10 - 13 cm) so với chuẩn quốc tế; thể lực, sức bền và sức mạnh của thanh niên Việt Nam đƣợc xếp vào mức kém và rất kém so với chuẩn (9). Thiếu HĐTL đã góp phần gây ra 2,8% tổng số tử vong và 1,5% gánh nặng bệnh tật tính bằng DALY vào năm 2010 (12). Việc thúc đẩy HĐTL tại Việt Nam mới bắt đầu ở sự khuyến khích hoạt động thông qua các chƣơng trình truyền thông, giáo dục sức khỏe, chƣa đƣợc triển khai toàn diện và khuyến cáo cụ thể cho từng độ tuổi (1). 2 Nhằm tăng cƣờng sức khỏe, phòng, chống bệnh tật cho ngƣời dân, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 641/QĐ-TTg ngày 28/04/2011 phê duyệt “Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc con người Việt Nam giai đoạn 2011 – 2030” (13), Quyết định số 376/QĐ-TTg ngày 20/3/2015 phê duyệt “Chiến lược Quốc gia phòng, chống bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, hen phế quản và các bệnh không lây nhiễm khác, giai đoạn 2015 – 2025”(14), Quyết định số 41/QĐ-TTg ngày 08/01/2019 phê duyệt Đề án "Bảo đảm dinh dưỡng hợp lý và tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ em, học sinh, sinh viên để nâng cao sức khỏe, dự phòng bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản giai đoạn 2018-2025".
Các văn bản trên cho thấy sự cần thiết phải tăng cƣờng HĐTL của ngƣời dân và thế hệ trẻ, là cơ sở pháp lý đƣa HĐTL vào trƣờng học. Tuy nhiên, cho tới nay, việc thực hiện các quyết định trên còn gặp khó khăn và hiệu quả chƣa rõ rệt; các giải pháp đƣợc đề ra chƣa thực sự cụ thể, thiếu tài liệu hƣớng dẫn hoạt động cho từng nhóm đối tƣợng, chƣa có những chƣơng trình can thiệp cụ thể tại cộng đồng và trƣờng học. Trƣờng Đại học Tây Bắc (ĐHTB) có gần 3.000 sinh viên hệ chính quy, mỗi năm tuyển sinh trên 700 sinh viên, Trƣờng đã quan tâm rèn luyện thể lực cho sinh viên, góp phần đảm bảo quá trình giáo dục toàn diện con ngƣời về đức, trí, thể, mỹ. Tuy nhiên, HĐTL mới chỉ có ở các học phần giáo dục thể chất hoặc một số chƣơng trình ngoại khóa mà chƣa đề cập đến toàn bộ các hoạt động tiêu hao năng lƣợng nhƣ vui chơi, giải trí, làm việc hay đi lại.
Các phong trào HĐTL ít đƣợc quan tâm nên chƣa có giải pháp cụ thể; chƣa có nghiên cứu đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hƣởng, chƣa có chƣơng trình can thiệp để nâng cao HĐTL cho sinh viên. Sinh viên chƣa nhận thức rõ lợi ích, sự cần thiết cũng nhƣ chƣa có động lực thúc đẩy HĐTL của mình nên còn bị động và lệ thuộc vào những tác động bên ngoài. Sinh viên cần đƣợc giáo dục tăng cƣờng HĐTL vì đây là độ tuổi mà các thói quen suốt đời đƣợc hình thành và duy trì (15). Vì thế, việc tiến hành nghiên cứu về thực trạng và đề xuất các giải pháp can thiệp nhằm tăng cƣờng HĐTL cho sinh viên trong trƣờng học là rất cần thiết.
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài:“Can thiệp tăng cường hoạt động thể lực cho sinh viên của Trường Đại học Tây Bắc” đƣợc tiến hành nhằm đóng góp thêm các bằng chứng về HĐTL, các giải pháp khả thi cho việc nâng cao HĐTL của sinh viên tại Việt Nam. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: (1). Mô tả thực trạng và các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động thể lực của sinh viên Trƣờng Đại học Tây Bắc năm học 2020 - 2021. Xây dựng các giải pháp can thiệp tăng cƣờng hoạt động thể lực cho sinh viên của Trƣờng Đại học Tây Bắc năm học 2020 - 2021.
Đánh giá kết quả can thiệp tăng cƣờng hoạt động thể lực cho sinh viên của Trƣờng Đại học Tây Bắc năm học 2021 - 2022. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Hoạt động thể lực Hoạt động thể lực là tất cả những chuyển động của cơ thể đƣợc thực hiện bởi cơ xƣơng, sự chuyển động này đòi hỏi phải tiêu hao năng lƣợng; bao gồm cả những hoạt động đƣợc thực hiện trong khi làm việc, khi di chuyển, làm các công việc gia đình, đi du lịch, giải trí, thể dục thể thao (3).
Thuật ngữ “hoạt động thể lực” không đồng nghĩa với “tập thể dục”. Bởi vì, tập thể dục chỉ là một cấu phần trong HĐTL và là những hoạt động luyện tập đƣợc lên kế hoạch với mục đích nhất định. Ví dụ nhƣ để tăng cƣờng sức khỏe hay để giữ gìn vóc dáng (1). Hoạt động thể lực đƣợc đặc trƣng bởi 3 yếu tố: tần suất, thời gian và cƣờng độ tập luyện: - Tần suất: số lần HĐTL trong khoảng thời gian xác định (1 tuần, 1 tháng,.
- Thời gian: là tổng số thời gian tham gia HĐTL. Thời gian HĐTL càng kéo dài thì hiệu quả càng lớn. Quá trình tập luyện hàng ngày có thể chia ra làm nhiều lần tập kéo dài khoảng 10-15 phút/lần, để đảm bảo đủ tổng thời gian tập/ngày. - Cường độ: là mức độ cao hay thấp (nặng hay nhẹ) của hoạt động liên quan đến tỷ lệ tiêu tốn năng lƣợng cơ thể.
Bài tập luyện có cƣờng độ cao thì hiệu quả lên sức khỏe và vóc dáng càng cao, luyện tập với cƣờng độ nhẹ đã có tác dụng nhƣng khi luyện tập với cƣờng độ cao hơn sẽ giúp cải thiện và duy trì thể lực. Cƣờng độ HĐTL đƣợc chia làm 3 mức độ: cao, vừa phải và nhẹ, cụ thể (16): Hoạt động cường độ cao: là HĐTL ở mức gắng sức (tiêu tốn khoảng>7 Kcal/phút), làm tăng nhịp thở và nhịp tim hơn so với bình thƣờng rất nhiều (nhịp tim hơn 70% nhịp tối đa). Ví dụ: gánh vác nặng, làm thợ nề/hồ, đào xúc đất, cuốc đất liên tục, cƣa xẻ, chạy dài, thể thao gắng sức, đạp xe từ ≥ 16 km/giờ. Hoạt động cường độ vừa phải: là hoạt động mà làm tăng nhịp thở và nhịp tim hơn lên so với bình thƣờng một chút (nhịp tim là 50-70% so với nhịp tim tối đa).
Tiêu tốn năng lƣợng khoảng 3,5-7 Kcal/phút. Ví dụ: lau chùi nhà cửa, làm vƣờn, bơi lội, chạy bộ nhẹ nhàng, leo cầu thang, đánh cầu lông, bóng chuyền nghiệp dƣ, đạp xe từ 8-15 km/giờ. 5 Hoạt động cường độ nhẹ: là bất kỳ hoạt động nào tiêu tốn khoảng 3,5 Kcal/phút. Mức này tƣơng đƣơng với năng lƣợng của một ngƣời khỏe mạnh có thể tiêu thụ khi họ đi dạo nhẹ nhàng, đi bộ <5 km/giờ, đạp xe <8 km/giờ…Nhịp tim ở cƣờng độ nhẹ ít hơn 50% nhịp tim tối đa.
Thời gian tĩnh tại: là bất kỳ hoạt động nào (ngoại trừ thời gian ngủ) đƣợc đặc trƣng bởi mức tiêu hao năng lƣợng ≤ 1,5 năng lƣợng trao đổi chất tƣơng đƣơng, chẳng hạn nhƣ ngồi (ngồi xem tivi, ngồi xe bus, ngồi học), ngả lƣng, nằm nghỉ (3). * Đủ và thiếu hoạt động thể lực: đối tƣợng nghiên cứu đƣợc xem là đủ HĐTL tức là họ đạt khuyến cáo của WHO về hoạt động thể lực (dành cho ngƣời trƣờng thành từ 18-69 tuổi): thực hiện ít nhất 150 phút/tuần HĐTL cƣờng độ vừa phải hoặc ít nhất 75 phút/tuần cho HĐTL cƣờng độ cao hoặc kết hợp cả hai hoạt động nêu trên với ít nhất 600 MET-phút/tuần. Ngƣợc lại, đối tƣợng không đạt các tiêu chí theo khuyến cáo của WHO về HĐTL thì đƣợc xem là thiếu HĐTL (17,18). * Mức độ hoạt động thể lực: hoạt động tích cực (khi tổng năng lƣợng HĐTL của một ngƣời đạt ≥ 3000 MET-phút/tuần); hoạt động trung bình (khi tổng đạt ≥ 600 MET-phút/ tuần và <3000 MET-phút/tuần); hoạt động thấp (khi tổng đạt <600 MET-phút/tuần) (8).
Thể dục thể thao Thể dục thể thao, đôi khi còn gọi ngắn gọn là thể dục, là quá trình luyện tập và tăng cƣờng thể chất thông qua sự vận động tích cực của cơ bắp. Đối tƣợng của nó là điều khiển quá trình phát triển thể chất của con ngƣời. Thể dục thể thao là một hoạt động; là tổng hoà giá trị vật chất và tinh thần; là kết quả của hoạt động (19). Thể dục có nhiệm vụ: phát triển cân đối ngoại hình, nâng cao sức khỏe, kéo dài tuổi thọ của con ngƣời; giúp hình thành và củng cố các kĩ năng, kĩ xảo vận động cần thiết; góp phần giáo dục các phẩm chất chính trị, ý chí và đạo đức, lối sống.
Luyện tập thể dục khoa học sẽ giúp phát triển các tố chất thể lực nhƣ sức mạnh, sức bền, sự khéo léo của cơ thể (20). Giáo dục thể chất Giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục mà nội dung chính là dạy học vận động (hay dạy động tác) và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con 6 ngƣời. Tổng hợp quá trình đó giúp xác định khả năng thích nghi thể lực của con ngƣời (20).