lời mở đầu “khỏe vì nước kiến thiết quốc gia” góp phần động viên, cỗ vũ phong trào tập luyện của quan chúng. “Lời kêu gọi toàn dân tập thê dục” của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay lập tức đã có tác động sâu sắc tới mọi giới, mọi nhà, mọi người dân. Phong trào “khỏe vì nước” thực sự sôi động hơn bao giờ hết. Các tô chức xã hội, đoàn thể đã nhiệt tình hưởng ứng việc luyện tập sức khỏe băng cách cử đại biểu đi dự các lớp huấn luyện do Nha Thanh niên và Thẻ dục tổ chức, rồi về đơn 19 VỊ phổ biến lại cho các đoàn viên như thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, tự vệ, thiếu nhi cứu quốc, thanh niên công giáo.
Ở khắp các công sở, xí nghiệp, Ủy ban hành chính của các tỉnh, thành đã có uỷ viên chuyên trách về TDTT và thực hiện các biện pháp hành chính như lập quỹ dành riêng cho TDTT, mua sắm các dụng cụ TDTT. Có thê khăng định rằng, Cách mạng tháng Tám thành công và lời kêu gọi toàn dân tập thé dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nền TDTT mới của nhân dân lao động đã ra đời trên đất nước Việt Nam. Thể duc thé thao ở vùng tự do - kháng chiến Trong cuộc kháng chiến 9 năm (1946 - 1954), Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tam gương sáng, tiêu biểu cho ý thức rèn luyện sức khỏe. Ở chiến khu Việt Bắc đã hình thành một phong trào rèn luyện sức khỏe trong bộ đội, dân quân du kích.
Một trong những loại bài tập phổ biến là bai tập thé dục quân sự gồm 32 động tác có súng, gậy. Các môn thé thao như bóng đá, bóng chuyên, vật, bơi lội, chạy việt dã. bước đầu phát triển. Ở liên khu 4 nói chung và Thanh Hóa nói riêng, tổ chức các hoạt động TDTT là các đoàn thé quan chúng, chủ yếu là đoàn thanh niên, đội thiếu niên, các đơn vị bộ đội và dân quân tự vệ.
Mặc dù thiếu sự hướng dẫn và chỉ đạo, nhưng trên các sân bãi, sân trường, sân đình. hàng ngày vào các buổi chiều, đông đảo thanh niên, thiếu niên yêu thích TDTT tự giác tập trung đến luyện tập các môn võ, vật, chạy, nhảy, sôi nôi nhất vẫn là các môn tập bóng đá, bóng chuyền với những quả bóng bén bang rơm hoặc băng dây chuối. 20 Những hoạt động TDTT thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp gan liền với những hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân. Tại các trường đại học, hoạt động thể thao được các thanh niên yêu thích, nhất là bóng chuyền, bong đá, bơi lội; những ngày chủ nhật, ngày lễ các trường thường tổ chức thi dau giao hữu với nhau.
Nhưng ở miền núi Thanh Hóa, đồng bào các dân tộc thường tô chức băn nỏ, leo núi, đua ngựa, ném lao, tung còn, đánh đu. Tại các xóm, thôn thuộc lưu vực các dòng sông (sông Mã, sông Chu và sông Yên.), hang năm nhân dân tô chức các cuộc thi bơi truyền thống. Trong các ngày lễ hội, nhân dân vùng biên còn tô chức thi bơi trải, đua thuyền, vật. Những hoạt động TDTT trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp ở Thanh Hóa và nhiều địa phương liên khu 4, do hoàn cảnh đặc biệt của chiến tranh vừa kháng chiến, vừa kiến quốc nên phải hoạt động phân tán, chưa thé thành phong trào quần chúng sôi nổi và rộng khắp, còn nặng về các hoạt động thể thao, nhẹ về thể dục, chưa có một bộ máy chuyên môn lãnh đạo và chỉ đạo mà chủ yêu do quan chúng tự giác trên cơ sở phát huy truyền thống thượng võ của dân tộc.
Thể duc thé thao trong vùng dich tạm chiếm Trong lúc nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đang nỗ lực xây dựng một chế độ xã hội mới, cuộc sống mới, con người mới thì thực dân Pháp luôn phản bội những điều cam kết với nhân dân ta đã được kí trong bản Hiệp định sơ bộ ngày 06/3/1946 và Tạm ước ngày 21 14/9/1946. Thực dân Pháp gây chiến ở Hải Phòng, Lạng Sơn và một số tỉnh thành khác. Đến ngày 19/12/1946, chúng gây chiến ở Hà Nội. Theo lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng ta thà hi sinh tat cả, chứ nhất định không chịu mat nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, Chính phủ Cách mạng đã rút về vùng tự do, tiễn hành cuộc kháng chiến trường kì ở các vùng địch tạm chiếm.
Thực dân Pháp tiếp tục chính sách cai trị, áp bức, bóc lột nhân dân ta, chúng đã sử dụng TDTT để lôi kéo tầng lớp thanh niên, trí thức xa rời cuộc đấu tranh giai cấp. Ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn, chúng mở các trường bồi dưỡng thanh niên và nghiệp vụ TDTT như: Trường Quốc gia thanh niên Huế (1949), Trường Cán bộ thanh niên Nha Trang (1950 - 1951), Trường Can bộ thanh niên Sai Gòn (1952 - 1954) nhằm huấn luyện thanh niên về TDTT, trong chương trình giảng day bao gồm các nội dung của thé dục, điền kinh theo trường phái tự nhiên; ngoài ra chúng còn dạy các học viên cách vận động thanh niên theo các tai liệu chống cộng sản. Tại các thành phó, thị xã và nhiều vùng nông thôn khi Pháp trở lại chiếm đóng và lập chính quyền ngụy, các hoạt động TDTT vốn có từ thời xưa được tiếp tục duy trì, nhất là trong các lò võ, lò vật. Vào thời kì này, một SỐ giải thi đấu các môn thê thao được diễn ra ở Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, toàn Việt Nam và giữa 03 nước Đông Dương trong khối cai trị của Pháp là Lào và Campuchia.
22 Chính quyền thực dân cũng tổ chức đào tạo huấn luyện viên, giáo viên thé dục, hướng dẫn viên và trọng tài thể thao. Một số cơ sở vật chất, sân bãi TDTT được xây dựng chủ yếu 0 Hà Nội, Hải Phong, Nha Trang, Sai Gon. Sự phát triển của thé dục thé thao Việt Nam từ nam 1955 đến năm 1975 1. Thể duc thé thao ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa * Tình hình, đặc điểm phát triển TDTT xã hội chủ nghĩa Trong thời kì này, nhiệm vụ của TDTT là phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất đất nước.
Từ năm 1955 đến 1956, trên toàn miền Bắc, tại thủ đô Hà Nội và các thị xã, thành phố đã tổ chức nhiều cuộc thi đấu thé thao, nhất là các môn: bóng đá, bóng chuyền, bóng ban. Tháng 6/1956, Chính phủ quyết định thành lập Ban TDTT trung ương. Ngày 16/3/1957, Phủ Thủ tướng phát động cuộc vận động rèn luyện thân thể mùa Xuân thu hút đông đảo quần chúng tham gia. Nhân dân ta dần dần hiểu thêm về lợi ích, tác dụng của TDTT và tự xác định nghĩa vụ của mình là phải tự chăm lo sức khỏe cho mình.
Các cấp uy Đảng, chính quyền, đoàn thé nhận thức rõ hơn, coi TDTT là một công tác cách mạng. Đội ngũ người làm công tác TDTT được tập hợp lại, bé sung thêm. Ban TDTT trung ương là cơ quan tổ chức, hướng dẫn, vận động quần chúng tham gia tập luyện TDTT. Bắt đầu 23 thí điểm thực hiện rèn luyện thân thé theo tiêu chuẩn.
Khôi phục một số môn TDTT dân tộc, bắt đầu phát triển các môn TDTT quốc phòng. Ngày 02/10/1958, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 106-CT/TW về công tác TDTT. Đây là chỉ thị đầu tiên của Ban Bí thư Trung ương Đảng về TDTT ở nước ta. Năm 1958, các hoạt động TDTT trong nước và quốc tế rất sôi động: giải vô địch bóng bàn, bóng chuyền, bóng rỗ toàn miền Bắc, đại hội bơi lội của thiếu niên toàn miền Bắc lần thứ nhất, giải vô địch quyền anh, giải chạy việt dã Báo Tiền phong lần thứ nhất được tô chức ngày 25/12/1958.
Quan hệ quốc tế về TDTT giữa nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa bắt đầu được thiết lập. Từ năm 1959 đến 1960 là hai năm phong trào TDTT của miền Bắc tiếp tục phát triển mạnh và sôi nổi, nhất là phong trào TDTT quan chúng. Nhiều điển hình tiên tiến về TDTT đã xuất hiện như Trường phổ thông cơ sở Tan Thuật, Thái Bình, Đại đội gió (Quân khu 3), Xí nghiệp dược phẩm 1 Hà Nội. Song song với phong trào TDTT quan chúng, hoạt động thé thao nâng cao được chú ý.
Trường huấn luyện thể thao trung ương được thành lập năm 1959 để đào tạo các vận động viên xuất sắc. Các đoàn thé thao như Quân đội (Thể Công), Công an nhân dân, cùng với Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định. tích cực đào tạo tài năng thể thao. Trường Trung cấp TDTT trung ương thành lập (25/9/1959) để đào tạo các cán bộ TDTT có trình độ trung học.
Các ban TDTT của các tỉnh, thành cũng chú 24 ý đào tạo nhiều hướng dẫn viên TDTT ở các cơ sở. Việc giảng dạy TDTT cũng được đưa vào các trường phô thông. Ngày 31/01/1964, trước nhu cầu đào tạo cán bộ TDTT đông về số lượng, mạnh về chất lượng, Hội đồng Chính phủ ra quyết định thành lập Trường Cán bộ TDTT trung ương và giao cho nhà trường nhiệm vụ đào tạo cán bộ có trình độ đại học TDTT. Công tác TDTT trong thời kì 1955 - 1960 đã góp phan tích cực vào công cuộc đấu tranh vì hòa bình thống nhất đất nước.
Song chính quyền Ngô Đình Diệm đều khước từ tất cả các đề nghị giao lưu, quan hệ và thông tin TDTT giữa hai miền. Thời gian từ năm 1961 đến năm 1975, cuộc đấu tranh thống nhất đất nước chuyển sang bước ngoặt mới. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam được thành lập năm 1960, chính quyền Ngô Đình Diệm ra sức đàn áp cách mạng. Cả nước bước vào cuộc chiến đấu dé thống nhất đất nước.
Miền Bắc trở thành hậu phương lớn của cuộc dau tranh nay. Do đó, công tác TDTT có sự chuyên hướng. Phong trào thể dục - vệ sinh và rèn luyện thân thé theo tiêu chuẩn tiếp tục được đây mạnh và phát triển rộng khắp các cơ sở. Ngày 28/02/1962, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 38-CT/TW về “tăng cường công tác TDTT quốc phòng”.
Năm 1964, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, công tác TDTT đã được chuyên hướng. Lấy thê thao phục vụ quốc phòng làm nhiệm vụ trọng tâm, với nội dung chủ yếu là phong trào rèn luyện 05 môn: chạy, nhảy, bơi, bắn, võ được tô chức ở các địa phương, các tỉnh thành, ngành trong cả 25 nước. Năm 1966, đại hội toàn miền Bắc thi đấu 05 môn được tổ chức lần đầu tiên. Phong trào “luyện vai trăm cân, luyện chân ngàn dặm” dé “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” được các tầng lớp thanh niên hưởng ứng sâu rộng.