CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm của đảng và nhà nước về công tác giáo dục thể chất Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo nói chung, về GDTC trong trường học được xuất phát từ những cơ sở tư tưởng, lý luận của học thuyết Mác - Lênin về con người và sự phát triển con người toàn diện, về giáo dục thế hệ trẻ trong xã hội Xã hội chủ nghĩa, từ tư tưởng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về TDTT nói chung và GDTC cho thế hệ trẻ nói riêng. Những cơ sở tư tưởng, lý luận đó đều được Đảng và Nhà nước ta quán triệt trong suốt thời kỳ lãnh đạo Cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân và tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội ngày nay, được cụ thể hoá qua các kỳ Đại hội Đảng, các chỉ thị, các nghị quyết, nghị định, thông tư về GDTC và TDTT ở từng giai đoạn cách mạng theo yêu cầu nhiệm vụ và tình hình cụ thể của đất nước. Nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả GDTC và hoạt động thể thao trường học, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 01 tháng 12 năm 2011 của Bộ Chính trị có nêu: “Đổi mới chương trình và phương pháp giáo dục thể chất, gắn giáo dục thể chất với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống của học sinh, sinh viên. Đãi ngộ hợp lý và phát huy năng lực đội ngũ giáo viên thể lực hiện có, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên thể dục cho trường học; củng cố các cơ sở nghiên cứu khoa học về tâm sinh lý lứa tuổi và thể dục, thể thao trường học” [6].
Đẩy mạnh việc thường xuyên rèn luyện thân thể, nâng cao sức khỏe để học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho học sinh, sinh viên trong quá trình hội nhập quốc tế. Xác định việc thay đổi tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho phù hợp thực tiễn và thời đại, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành qui định về việc 6 đánh giá xếp loại thể lực học sinh, sinh viên, ban hành kèm theo quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Điều I của qui định nêu rõ: “Văn bản này áp dụng đối với học sinh, sinh viên của các trường đại học, cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp, trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học” [27]. Tổ chức thực hiện hiệu quả chương trình môn học GDTC, bố trí thời gian hợp lí, khoa học góp phần nâng cao chất lượng giờ học; đổi mới phương pháp, hình thức dạy học và cách đánh giá tạo hứng thú, yêu thích môn học, không gây áp lực cho học sinh, sinh viên, tăng cường công tác xã hội hóa, huy động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân, các chương trình, dự án nhằm phát triển công tác giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trường học. Bộ Giáo dục đào tạo đã ban hành thông tư 25/2015/TT-BGDĐT, theo đó các trường sẽ quy định cụ thể khối lượng kiến thức môn học này phù hợp với yêu cầu của từng ngành đào tạo, nhưng khối lượng của chương trình môn học GDTC sinh viên cần tích lũy tối thiểu là 3 tín chỉ.
Đánh giá chương trình môn học GDTC theo quy định hiện hành, phù hợp với điều kiện thực tiễn và các tiến bộ khoa học chuyên ngành. Việc đánh giá các học phần, đánh giá kết quả học tập chương trình môn học GDTC được quy định cụ thể trong chương trình môn học và theo các quy định. Chương trình môn học GDTC nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, hoàn thiện nhân cách, nâng cao khả năng học tập, kỹ năng hoạt động xã hội với tinh thần, thái độ tích cực, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện [38]. Như vậy quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, xuyên suốt chỉ đạo thực hiện công tác GDTC trong trường học nói chung và các trường Đại học nói riêng.
Công tác kiểm tra đánh giá cũng luôn được chú trọng trong các văn bản của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt, năm học 2023-2024, 7 Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã yêu cầu tiếp tục triển khai thực hiện Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT [27].2 Các khái niệm liên quan đến công tác giáo dục thể chất 1.1 Khái niệm Giáo dục thể chất Có rất nhiều khái niệm về GDTC ở các tài liệu khác nhau, nhưng nội dung chủ yếu của nó là: GDTC là một quá trình giáo dục mà đặc trưng của nó là thể hiện ở việc giảng dạy các động tác và giáo dục (điều khiển sự phát triển) các tố chất thể lực của con người. Theo Trần Thị Tuyết Oanh: “Giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con người” [12]. Việc dạy học động tác và phát triển các tố chất vận động có quan hệ chặt chẽ, làm tiền đề và thậm chí có thể “chuyển” lẫn nhau, nhưng chúng không bao giờ đồng nhất và có mối quan hệ khác biệt trong các giai đoạn phát triển thể chất và giáo dục thể chất khác nhau [12].2 Mục tiêu, nhiệm vụ của Giáo dục thể chất.
- Mục tiêu của GDTC: Mục tiêu chiến lược của Đảng, Nhà nước, của Ngành Giáo dục và Đào tạo nước ta trong giai đoạn hiện nay là nâng cao năng lực thể chất và sức khỏe cho HS, SV nhằm phát triển hài hòa cơ thể. Để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì nhất thiết phải coi trọng công tác GDTC trong trường học. Đặc biệt là khối trường đại học, cao đẳng vì sinh viên là những nhân tố, lực lượng nòng cốt để phát triển đất nước [15]. - Nhiệm vụ của GDTC: Giáo dục thể chất trong các trường đại học cao đẳng là bộ phận quan trọng trong sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo và TDTT của một quốc gia.
Nó được 8 tiến hành phù hợp về đặc điểm giải phẫu, tâm sinh lý, giới tính và lứa tuổi SV cùng với một số yêu cầu khác. Căn cứ vào mục tiêu cơ bản, nhiệm vụ GDTC trong các trường đại học, cao đẳng được cụ thể hóa như sau: + Nhiệm vụ bảo vệ và nâng cao sức khỏe: Thúc đẩy sự phát triển hài hòa của cơ thể, giữ gìn và hình thành cơ thể cân đối, nâng cao khả năng chức phân cơ thể, tăng cường quá trình trao đổi chất, củng cố và rèn luyện thần kinh vững chắc. Phát triển một cách hợp lý các tố chất thể lực và năng lực hoạt động cơ bản, nâng cao khả năng hoạt động trí óc và thể lực. Trên cơ sở phát triển thể chất, tổ chức các hoạt động vui chơi lành mạnh, nghỉ ngơi tích cực, rèn luyện và nâng cao khả năng chịu đựng và sức đề kháng của cơ thể với các ảnh hưởng bất lợi của môi trường bên ngoài, phòng chống bệnh tật [15].
+ Nhiệm vụ giáo dục: Là một mặt của giáo dục toàn diện nên GDTC góp phần tích cực vào việc hình thành các thói quen đạo đức, phát triển trí tuệ, thẩm mỹ, chuẩn bị thể lực cho thanh niên, SV đi vào cuộc sống, lao động, sản xuất và công tác. Đồng thời, phải gắn liền hoạt động GDTC với các yêu cầu cụ thể và các hoạt động chung của nhà trường [15]. + Nhiệm vụ giáo dưỡng: Trang bị cho SV kiến thức về TDTT, kỹ năng kỹ xảo vận động cần thiết cho các hoạt động khác nhau trong cuộc sống. Cung cấp các tri thức và rèn luyện thói quen giữ vệ sinh môi trường, vệ sinh tập luyện, nếp sống văn minh lành mạnh.
Phát triển hứng thú và nhu cầu rèn luyện thân thể cường tráng, hình thành thói quen tự tập luyện. Trang bị một số tri thức về mặt tổ chức và phương pháp tiến hành một buổi tập luyện TDTT [15]. + Nhiệm vụ tiếp tục phát hiện và bồi dưỡng nhân tài thể thao: 9 GDTC có nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng nhân tài thể thao, năng khiếu trong các trường đại học, cao đẳng và trong điều kiện khả năng của mình bồi dưỡng nhân tài thể thao cho đất nước, hoặc phối hợp với các tổ chức, cơ quan có trách nhiệm để kịp thời bồi dưỡng nhân tài thể thao [15].3 Ý nghĩa của Giáo dục thể chất Giáo dục thể chất là một quá trình sư phạm nhằm hoàn thiện về mặt thể chất và chức năng của cơ thể con người, nhằm hình thành và củng cố những kỹ năng vận động cơ bản trong đời sống cũng như trong lao động. GDTC là một bộ phận của TDTT, là một trong những hình thái hoạt động cơ bản TDTT trong xã hội.
Hay nói cách khác GDTC là loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động và phát triển có chủ định các tố chất thể lực của con người. GDTC trong trường học có tác dụng to lớn trong việc xây dựng một nền văn hoá mới và con người mới. TDTT là biện pháp xây dựng những phẩm chất cao quý cho sinh viên. Cơ thể cương trắng đặc biệt là hệ thống thần kinh khỏe mạnh, là cơ sở cho sự phát triển trí lực.
Khoa học đã chứng minh sự thông minh của con người có liên quan đến trạng thái kết cấu vật chất và cơ năng của đại não. Thường xuyên tập luyện TDTT, có thể cung cấp đầy đủ dưỡng khi cho đại não, làm cho thần kinh ở đại não phát triển mạnh mẽ. Rèn luyện GDTC và hoạt động TDTT với các hình thức khác nhau trong trường đại học còn có thể trang bị thêm các tri thức, kỹ thuật và kỹ năng, làm phong phú thêm nội dung sinh hoạt văn hoá bổ ích. GDTC trường học còn có tác dụng trong việc giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên, luyện tập TDTT thường xuyên, có thể làm cho cơ thể đẹp, cân xứng về thể hình, đồng thời nó cũng có vai trò to lớn trong việc bồi dưỡng động tác đẹp, tư thế đẹp, cử chỉ đẹp, tâm hồn đẹp và óc mỹ quan chính xác.
GDTC và thể thao trường học góp phần duy trì và củng cố sức khỏe, nâng cao trình độ thể lực cho SV.