MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tình trạng ô nhiễm môi trƣờng, thiên tai, lũ lụt ngày càng gia tăng ở Việt Nam và trên thế giới. Các hiện tƣợng bất thƣờng về thời tiết, khí hậu, sự suy thoái môi trƣờng đang gióng lên hồi chuông báo động đối với nhân loại. Trƣớc tình hình đó , Đảng và Nhà nƣớc ta rất chú ý đến công tác bảo vệ môi trƣờng và coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm hƣớng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trƣờng trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nƣớc đã xác định quan điểm “Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là yếu tố đảm bảo sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta”. Với phƣơng châm “lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với môi trường là chính”. Nghị quyết coi tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức là giải pháp số một trong 7 giải pháp bảo vệ môi trƣờng của nƣớc ta và chủ trƣơng “Đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào chương trình sách giáo khoa của hệ thống giáo dục quốc dân, tăng dần thời lượng và tiến tới hình thành môn học chính khóa đối với các cấp học phổ thông”.[7] Nhiều công trì nh nghiên cứu đã nhấn mạnh phải đƣa giáo dục môi trƣờng cho mọi ngƣời ngay từ lúc họ còn ngồi trên g hế nhà trƣờng. Cần tạo điều kiện cho học sinh làm quen với các khái niệm về môi trƣờng , biết yêu thích thiên nhiên, biết xót xa trƣớc sự suy thoái môi trƣờng, biết căm ghét những hành động phá hoại cảnh quan môi trƣờng và tích cực xây dựng một cuộc sống bền vững.
Giáo dục môi trƣờng trong trƣờng học tại Việt Nam đã đƣợc thực hiện từ nhiều năm nay với các chƣơng trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã có những kết Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 2 quả đáng khích lệ trong việc nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi bảo vệ môi trƣờng sống xung quanh của học sinh. Trƣớc những diễn biến xấu của khí hậu, những biến đổi nghiêm trọng của môi trƣờng thì nhiệm vụ giáo dục môi truờng lại càng cần phải chú trọng hơn. Việc giáo dục môi trƣờng không chỉ dừng lại ở việc tích hợp nội dung vào một số môn học, các hoạt động giáo dục cần có nhiều hình thức, nhiều chƣơng trình hoạt động thực tế hơn để thu hút mọi ngƣời cùng tham gia. Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam với diện tích khá lớn và dân cƣ đông.
Trong quy hoạch phát triển kinh tế của đất nƣớc, Quảng Ninh thuộc vùng kinh tế trọng điểm và là một đỉnh trong tam giác tăng trƣởng kinh tế Bắc Bộ. Là một tỉnh đƣợc thiên nhiên ƣu đãi có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng thuận lợi cho phát triển kinh tế với đặc điểm tự nhiên giống nhƣ Việt Nam thu nhỏ gồm: đồi núi, đồng bằng, sông ngòi, biển cả. Thành phố Hạ Long là trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội của tỉnh Quảng Ninh với thế mạnh là vị trí địa lí thuận lợi, cảnh quan đẹp, tài nguyên khoáng sản khá phong phú. Đặc biệt thành phố này nằm bên Vịnh Hạ Long xinh đẹp đƣợc UNESCO hai lần công nhận là di sản thiên nhiên thế giới và dự kiến sẽ trở thành một trong bảy kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới do tổ chức New Open World bình chọn.
Do vậy, vấn đề giáo dục để bảo vệ môi trƣờng càng trở nên cần thiết đối với thành phố Hạ Long. Trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh có 04 trƣờng trung học phổ thông ngoài công lập và 05 trƣờng trung học phổ thông công lập với số lƣợng đông với gần 10.000 học sinh sinh sống trên địa bàn 20 phƣờng. Các trƣờng ngoài công lập đƣợc xây dựng từ năm 2000 với cơ sở vật chất khang trang và đáp ứng đủ nhu cầu cho ngƣời học. Đa số học sinh của các trƣờng là con em của công nhân ngành than, ngƣ dân (đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản), kinh doanh phục vụ du lịch.
Vì vậy, vấn đề bảo vệ môi trƣờng có liên quan trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của gia đình các em. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 3 Hiện nay, công tác giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong các trƣờng trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hạ Long đã có những hình thức, nội dung và phƣơng pháp đa dạng. Công tác quản lý giáo dục môi trƣờng đã đạt đƣợc những kết quả quan trọng những vẫn còn có những lúng túng, bất cập chƣa đạt đƣợc các mục tiêu mong muốn. Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Quản lý giáo dục môi trường tại các trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn cao học, với mong muốn góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục môi trƣờng ở địa phƣơng.
Mục đích nghiên cứu Đề tài có mục đí ch đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục môi trƣờng cho học sinh ở các trƣờng trung học phổ thông ngoài công lập trên đị a bàn thành phố Hạ Long đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lƣợng giáo dục môi trƣờng, phù hợp với thực tiễn của tỉnh Quảng Ninh. Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý giáo dục môi trƣờng trong trƣờng trung học phổ thông. - Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý giáo dục môi truờng tại các trƣờng trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hạ Long. - Đề xuất biện pháp quản lý giáo dục môi trƣờng tại các trƣờng trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hạ Long.
Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 4. Khách thể nghiên cứu: Giáo dục môi trƣờng trong các trƣờng trung học phổ thông. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý giáo dục môi trƣờng tại các trƣờng trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hạ Long. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.
Giả thuyết khoa học Quản lý giáo dục trong nhà trƣờng bao gồm nhiều nội dung trong đó có nội dung quản lý giáo dục môi trƣờng , nếu ta có những biện pháp phù hợp với thực tiễn địa phƣơng thì sẽ nâng cao đƣợc nhận thức và thay đổi hành vi của học sinh trong việc bảo vệ môi trƣờng sống. Giới hạn phạm vi nghiên cứu - Thời gian: sử dụng tài liệu nghiên cứu từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 1 năm 2012. - Địa bàn nghiên cứu: tại các trƣờng THPT ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Phƣơng pháp nghiên cứu 7.
Phương pháp nghiên cứu lý luận - Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu, văn bản có liên quan. - Khái quát các nhận định lý luận sau nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Quan sát thực tế. - Khảo sát, phân tích thực trạng.
- Tổng kết kinh nghiệm. - Điều tra bằng phiếu hỏi. - Xin ý kiến chuyên gia. Phương pháp hỗ trợ - Toán thống kê để xử lý số liệu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG TRONG CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌ C PHỔ THÔNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Trên thế giới sau chiến tranh thế giới thứ 2, do nhu cầu khôi phục và phát triển nền kinh tế bị tàn phá, các nƣớc phát triển bắt tay vào khai thác nguyên liệu để sản xuất, trong quá trình đó ngƣời ta nhận thấy nguồn tài nguyên thiên nhiên có những biểu hiện cạn kiệt, môi trƣờng xuống cấp, mất cân bằng sinh thái, khí hậu có những biến dổi lạ thƣờng, khiến nhiều quốc gia phải quan tâm đến việc bảo vệ môi trƣờng. Cùng với sự quan tâm đó, các nhà khoa học giáo dục tiến hành nghiên cƣ́u các vấn đề giáo dục môi trƣờng và triển khai giáo dục trong nhà trƣờng. Ở nƣớc ngoài, từ những năm 60 của thế kỉ XX giáo dục môi trƣờng đã đƣợc đƣa vào chƣơng trình giáo dục ở các trƣờng phổ thông.
Một số môn học liên quan trƣ̣c tiếp đến môi trƣờng đã đƣợc xây dƣ̣ng nhƣ : Tìm hiểu tự nhiên, Khoa học nông thôn , Địa lý, Sinh thái… Đây đƣợc coi là những cố gắng đầu tiên, rất hữu ích cho việc phát triển chƣơng trình giáo dục môi trƣờng sau này. Tiếp sau thời kỳ đó, ở một số nƣớc đã xây dựng chƣơng trình giáo dục môi trƣờng bằng cách khuyến khích học sinh sƣ̉ dụng kinh nghiệm đã có để hình thành kiến thức và thay đổi hành vi ứng xử với môi trƣờng. Cách làm này có lợi cho cả việc bảo vệ môi trƣờng, lẫn phát triển nhận thức và thay đối hành vi của học sinh. Những năm tiếp theo giáo dục môi trƣờng đƣợc vào chƣơng trình dạy học với hì nh thƣ́c tích hợp : “các khía cạnh của môi trường vào trong quá trình giáo dục, pha trộn nội dung có liên quan đến các vấn đề môi trường khác nhau vào các môn khoa học tự nhiên (Sinh học, Hóa học, Công nghệ.) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 hoặc các môn khoa học xã hội (Địa lý, Lịch Sử, Giáo Dục Công Dân…)” và đã đem lại những kết quả giáo dục rất tích cực.
Ở Việt Nam ngay từ năm 1962 Bác Hồ đã khai sinh ra “Tết trồng cây” và phong trào này ngày càng phát triển mạnh mẽ cho đến tận ngày nay. Năm 1991, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã có chƣơng trình trồng cây hỗ trợ phát triển giáo dục - đào tạo và bảo vệ môi trƣờng (1991 - 1995). Trong chƣơng trình cải cách giáo dục 1986 - 1992 nội dung giáo dục môi trƣờng đã tích hợp vào một số môn học nhƣ: Địa lý, Hóa học, Sinh học… Chỉ thị 36 - CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị “tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã coi giáo dục môi trƣờng là giải pháp đầu tiên, cơ bản “thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và phong trào quần chúng bảo vệ môi trường” trong đó “cần đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chương trình giáo dục của tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân”.