phần mở đầu; 2 chương, 5 tiết; kết luận, kiến nghị; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Giáo dục kỹ năng sống và quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở trên địa bàn quận Phú Nhuận 1. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học cơ sở quận Phú Nhuận Cũng như học sinh THCS trong cả nước, học sinh THCS trên địa bàn quận Phú Nhuận bao gồm các em HS từ lớp 6 đến lớp 9, tuổi từ 11 đến 15, 16 tuổi.
Đây là lứa tuổi vị thành niên, lứa tuổi có vị trí đặc biệt quan trọng trong thời kỳ phát triển của các em; là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”[51]. Đây là lứa tuổi có bước phát triển nhảy vọt cả về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này. Ở lứa tuổi của các em học sinh THCS có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống và hoạt động cụ thể. Đồng thời, ở cùng một độ tuổi nhưng do hoàn cảnh điều kiện sống, hoạt động, sinh hoạt khác nhau nên các em có mức độ phát triển khác nhau trong quá trình trưởng thành, trong quá trình trở thành người lớn.
Có rất nhiều yếu tố tác động kìm hãm sự phát triển trở thành người lớn của các em. Đó là yêu cầu chú tâm vào việc học tập, không đòi hỏi phải có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không muốn cho các em tham gia vào các hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, nhà trường và của xã hội. Bên cạnh những yếu tố tác động kìm hãm, các em cũng đang chịu sự chi phối của nhiều yếu tố tích cực, thúc đẩy sự phát triển trở thành người lớn. Đó là sự gia tăng về thể Luan van chất, về GD, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong đời sống đòi hỏi các em phải lao động nhiều để sinh sống.
Điều đó làm cho các em sớm có tính độc lập, tự chủ hơn, tự khẳng định mình hơn. Quá trình phát triển ở lứa tuổi học sinh THCS có thể xảy ra theo các hướng sau: - Một số em, tri thức sách vở giúp các em mở rộng tầm hiểu biết, song còn nhiều mặt trong đời sống thực tế thì các em hiểu biết hạn chế, thậm chí rất ít, chưa được định hình. - Có những em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến những vấn đề cuộc sống, sở thích cá nhân, làm thế nào cho phù hợp với “mốt”, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc, trao đổi với họ về các vấn đề trong cuộc sống để tỏ ra mình cũng như người lớn, đã trưởng thành, đã có thể độc lập trong suy nghĩ và hành động. - Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ, độc lập, e ấp, dịu dàng, … không còn quan hệ với bạn khác phái như trẻ con.
Lứa tuổi của các em học sinh THCS là lứa tuổi - thời kỳ giữ vị trí quan trọng trong quá trình phát triển nhân cách. Đó là thời kỳ từng bước hình thành quan điểm xã hội và đạo đức nhân cách làm cơ sở tiếp tục phát triển trong lứa tuổi thanh niên [52]. Với đặc điểm tâm, sinh lý của lứa tuổi học sinh THCS, đặt trong điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của một trong những quận trung tâm của thành phố Hồ Chí Minh với những tác động đa chiều, cả tích cực và tiêu cực đang đặt ra đối với các em phải có KNS cần thiết; đặt ra trước các nhà trường, các nhà quản lý phải làm tốt việc GDKNS cho các em. Phải chuẩn bị cho các em một cách chu đáo nhất để làm chủ được bản thân trong một xã hội đầy biến động hiện nay.
Các khái niệm về Kỹ năng sống và quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở” Khái niệm kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở Luan van KNS (life skills) là cụm tự được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi lứa tuổi trong lĩnh vực hoạt động. “KN” gợi lên khả năng thao tác, thực hiện chính xác một hoạt động nào đó. Hiện nay, xung quanh khái niệm KNS, còn có nhiều định nghĩa khác nhau: UNESCO dựa trên cơ sở 4 mục tiêu cơ bản của việc học: “Học để biết - Học để làm - Học để là chính mình - Học để cùng chung sống”, đã đưa ra định nghĩa “KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày” [53]. Theo quan niệm của UNESCO [54], KNS gồm: - Các KN cơ bản: KN đọc, viết, tính toán cho các chức năng hàng ngày.
Những KN này không mang đặc trưng tâm lý mà là nền tảng cho những năng lực thực hiện các chức năng của cuộc sống. - Các KN chung: (KN nhận thức, KN cảm xúc, KN xã hội) như các KN ra quyết định, KN tư duy phê phán, KN làm việc nhóm, KN giao tiếp … - Các KN trong tình huống, ngữ cảnh, vấn đề cụ thể của đời sống xã hội như: các vấn đề về giới, giới tính; các vấn đề về phòng chống HIV/AIDS, ma túy, rượu, thuốc lá; các vấn đề về môi trường, phòng chống bạo lực; các vấn đề về gia đình, trường học; các vấn đề về sức khỏe và dinh dưỡng. Mỗi cá nhân phải có đầy đủ 3 nhóm kỹ năng thành tố nói trên trong sự thống nhất và tính chỉnh thể chặt chẽ. Luan van WHO dựa trên lý thuyết học tập xã hội của Bandura (1977), tức là nhấn mạnh sự học tập qua quá trình trải nghiệm của con người, qua sự tích lũy kinh nghiệm sống, cấu trúc kinh nghiệm và chủ động nắm lấy kinh nghiệm, đã định nghĩa: “KNS là những năng lực giao tiếp đáp ứng và những hành vi tích cực của cá nhân có thể giải quyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” (life skills as “ abilies for adaptive and positive behaviour that anable individuals to deal effectively with the demands and challenges of everyday life”) [42].
Cụ thể hơn thì KNS là một nhóm các nhận thức, khả năng cá nhân có thể giúp con người tạo ra những quyết định đúng đắn. giải quyết vấn đề, suy nghĩ một cách sáng tạo và có phê phán, giao tiếp hiệu quả, xây dựng các mối quan hệ lành mạnh, biết thông cảm với người khác, biết sắp xếp cuộc sống của mình theo cách khỏe mạnh và hiệu quả. Theo quan niệm của WHO [42], các KNS được phân loại thành 3 nhóm: - Nhóm các KN nhận thức gồm KN tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, ra quyết định, giải quyết vấn đề … - Nhóm các KN xã hội gồm KN giao tiếp, KN cảm thông, KN hợp tác, KN làm việc nhóm ,… - Nhóm các KN cảm xúc gồm KN ứng phó với cảm xúc, KN ứng phó với căng thẳng, tự giám sát và điều chỉnh cảm xúc… UNICEF quan niệm: “KNS là những KN tâm lý xã hội có liên quan đến tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống” [54]. GD dựa trên KNS cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ và hành vi.
Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, hay tin tưởng vào giá trị nào) thành hành động (làm gì và làm như thế nào). Quan niệm của UNICEF chỉ rõ KNS được phân thành 3 nhóm: - Nhóm KN xã hội gồm KN giao tiếp (Truyền thông bằng lời và không bằng lời; Lắng nghe tích cực; Biểu lộ cảm xúc, phản hồi; KN quan hệ, tương tác liên nhân cách), KN đàm phán, thương lượng, từ chối (Thương lượng và xử lý mâu thuẫn; KN tự khẳng định; KN từ chối), KN quan hệ xã hội, KN làm việc nhóm/hợp tác, KN thấu cảm, KN động viên (KN ảnh hưởng và thuyết phục; KN tạo mạng lưới và động viên). Luan van - Nhóm KN phát triển nhận thức gồm KN ra quyết định và giải quyết vấn đề, KN thu thập thông tin (Đánh giá hệ quả tương lai của những hành động hiện tại với bản thân và người khác; Xác định các giải pháp khác nhau cho vấn đề; KN phân tích ảnh hưởng của các giá trị, thái độ, động cơ của bản thân và người khác), KN suy nghĩ có phán đoán, KN tư duy sáng tạo. - Nhóm KN đối phó với cảm xúc và làm chủ bản thân gồm KN quản lý căng thẳng (Quản lý thời gian; Tư duy tích cực; Kỹ thuật cơ bản) KN quản lý cảm xúc (Làm chủ sự tức giận; Xử lý những đau buồn và lo âu; Đối phó với những mất mát, lạm dụng , chấn thương), KN tự điều chỉnh (Ý thức về giá trị bản thân/ KN xây dựng sự tự tin; Ý thức về bản thân, bao gồm ý thức về quyền, ảnh hưởng, giá trị, thái độ, mặt mạnh, mặt yếu của bản thân).
Tuy còn có sự khác nhau về quan niệm KNS, nhưng các tổ chức UNESCO, WHO và UNICEF đều đã thống nhất 10 KNS cơ bản, được xem như cần thiết nhất cho tất cả mọi người, trong đó có học sinh THCS: KN ra quyết định; KN giải quyết vấn đề; KN tư duy sáng tạo; KN tư duy phê phán/ suy nghĩ có phán đoán; KN truyền thông có hiệu quả; KN giao tiếp giữa người và người; KN tự nhận thức bản năng; Khả năng thấu cảm; KN ứng phó với cảm xúc; KN ứng phó với stress. Hiện nay, ở trong nước cũng có nhiều quan niệm khác nhau về KNS.