CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Một số nghiên cứu của thế giới Từ những năm 90 của thế kỷ XX, thuật ngữ KNS đã được xuất hiện trong các chương trình hành động GD của UNICEP (Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc), trước tiên là chương trình “Giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần GD cho thế hệ trẻ. Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất một quan niệm chung về KNS cũng như đưa ra được một bảng danh mục các KNS cơ bản mà thế hệ trẻ cần có.
Phần lớn các công trình nghiên cứu trong giai đoạn này quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp và đồng thời đồng nhất nó với các kỹ năng xã hội. Vấn đề GD KNS cho người học đều được các nước quan tâm và cùng xuất phát từ quan niệm chung về KNS của WHO hoặc của UNESCO. Tuy nhiên, quan niệm và nội dung GD KNS của các nước không giống nhau. Hiện nay đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa KNS vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào trong chương trình chính khóa tiểu học và trung học [4].
Việc GD KNS cho HS ở các nước được thực hiện theo 3 hình thức: KNS là một môn học riêng biệt; KNS được tích hợp vào một môn học chính thức và KNS được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong nhà trường. Ở các nước phương Tây, KNS từ lâu đã được quan tâm. Mô hình GD của Pháp thế kỷ XXI theo đề xuất của Edgard Morin là phải giảng dạy về hoàn cảnh con người (hiểu rõ con người là gì, con người sống và hoạt động 7 như thế nào, trong những điều kiện nào, con người xử lý bằng cách nào) và học cách sống. Triết lý giáo dục Mỹ đầu thế kỉ XXI cũng cho rằng: cần nâng cao KN giao lưu qua nói, đọc, nghe, viết, cần phát triển khả năng suy ngẫm… Người Nhật đi vào thế kỉ XXI với mô hình không đánh giá HS, sinh viên qua năng lực hiểu các môn học mà đánh giá khả năng giải quyết các vấn đề của đời sống thực tiễn [15, tr.
KNS ở Lào [5] với cách tiếp cận nội dung quan tâm đến GD cách phòng chống HIV/AIDS được tích hợp trong chương trình GD chính quy. Năm 2001, GD KNS ở Lào được mở rộng sang các lĩnh vực GD như: GD dân số; GD giới tính, sức khỏe sinh sản, vệ sinh cá nhân; GD môi trường… GD KNS ở Campuchia được quan tâm dưới góc độ năng lực sống của con người, nó hướng đến GD các KN cơ bản trong đời sống con người và HĐ nghề nghiệp [5]. GD KNS ở Malaysia do Bộ Giáo dục và các cơ quan khác thực hiện. Họ coi môn GD KNS là môn KN của cuộc sống.
Mục tiêu của môn học này ở trường học là cung cấp cho HS những KN thực tế cơ bản để cho họ có thể thực hiện các nhiệm vụ cuộc sống. GD KNS được xem xét dưới 3 góc độ: Các KN thao tác bằng tay, KN thương mại và đấu thầu, KN trong đời sống gia đình [19]. Ở Bangladesh, GD KNS được khai thác dưới góc độ các KN hoạt động xã hội, KN phát triển, KN chuẩn bị cho tương lai. Ở Ấn Độ, GD KNS gắn liền với việc giúp con người sống một cách lành mạnh về thể chất và tinh thần nhằm phát triển các năng lực.
Các KNS được khai thác và GD gồm các KN: Giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, KN giao tiếp, KN ra quyết định,… Như vậy, có thể thấy quan niệm, nội dung GD KNS được triển khai ở các nước vừa thể hiện cái chung, vừa mang tính đặc thù của từng quốc gia. 8 Mặt khác, trong cùng một quốc gia, nhưng với các đối tượng, hình thức GD khác nhau thì nội dung GD KNS cũng khác nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực GD chính quy và không chính quy. Trong GD không chính quy ở một số nước, những KN như nghe, nói, đọc, viết được coi là những KNS cơ bản. Trong khi đó, ở lĩnh vực GD chính quy các KN cơ bản lại được xác định phong phú hơn theo các lĩnh vực quan hệ cá nhân.
Do vậy, phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai GD KNS nên những nghiên cứu lý luận về vấn đề này mặc dù là phong phú nhưng chưa toàn diện và sâu sắc. UNESCO đã tiến hành dự án ở 5 nước Đông Nam Á nhằm vào các vấn đề khác nhau liên quan đến KNS, kết quả của dự án là bức tranh tổng thể các nhận thức, quan niệm về KNS mà các nước tham gia dự án đang áp dụng hoặc dự kiến áp dụng. Theo tổng thuật của UNESCO, có thể khái quát những nét chính trong các nghiên cứu này như sau: - Nghiên cứu xác định mục tiêu của GD KNS: Hội thảo tại Bali khái quát báo cáo tham luận của các quốc gia tham gia hội thảo về GD KNS cho thanh niên đã xác định mục tiêu của GD KNS trong GD không chính quy ở các nước Châu Á- Thái Bình Dương là nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày. Đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Nghiên cứu xác định chương trình và hình thức GD KNS: Đây là nội dung được nhiều chương trình quan tâm nghiên cứu. Các nghiên cứu này cho thấy chương trình, tài liệu GD KNS được thiết kế cho GD không chính quy là phổ biến và rất đa dạng về hình thức cụ thể là: Lồng ghép vào chương trình dạy chữ (chương trình các môn học) ở các mức độ khác nhau. Dạy các chuyên đề cần thiết cho người học như tạo thu nhập, môi 9 trường, KN nghề, KN kinh doanh. KNS trong các chương trình, các nghiên cứu trên thế giới chủ yếu là để xây dựng hệ thống các KN của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các KN cụ thể và các điều kiện hình thành và phát triển các KN đó.
Một số nghiên cứu ở Việt Nam KNS và GD KNS đã được quan tâm từ lâu ở Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề này đến nay mới thật sự trở nên cấp thiết, vì những nguy cơ, thách thức của cuộc sống hiện đại đặt ra. Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến từ chương trình của UNICEF (1996) “ GD KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”. Quan niệm về KNS trong chương trình này bao gồm những KN cốt lõi như: KN tự nhận thức, KN giao tiếp, KN xác định giá trị, KN kiên định, KN đặt mục tiêu.
do các chuyên gia Úc tập huấn. Tham gia chương trình này có ngành GD và Hội Chữ thập đỏ. Sau này, chương trình mang tên “ Giáo dục sống khỏe mạnh và KNS”. Ngoài ngành GD, đối tác tham gia còn có 2 tổ chức chính trị xã hội là Trung ương Đoàn TNCS HCM và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam.
Đại diện của các tổ chức này cũng được tập huấn về KNS với quan niệm như trên. Trên cơ sở đó, quan niệm về KNS cơ bản đối với từng nhóm đối tượng được vận dụng đa dạng hơn. Một số tổ chức phi chính phủ ở nước ngoài cũng triển khai những chương trình, dự án nhằm can thiệp giảm thiểu các nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS đối với những đối tượng có nguy cơ cao và trong đó sử dụng cách tiếp cận KNS. Một số tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ nước ngoài đã hỗ trợ tiến hành GD KNS về một số chủ đề nhạy cảm cho một số nhóm đối tượng thuộc cả GD chính quy và GD thường xuyên.
Tuy nhiên, những HĐ về GD KNS chưa rộng rãi và chưa được phối hợp chặt chẽ với nhau để nâng cao hiệu quả 10 HĐ GD KNS cho thế hệ trẻ. Vì vậy, KNS được sự quan tâm đặc biệt của các nhà tâm lý học, GD Việt Nam trong thời gian gần đây với những công trình nghiên cứu đựơc triển khai các cấp. Tác giả Nguyễn Thanh Bình, người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và GD KNS ở Việt Nam với một loạt các công trình, bài báo đã mở ra những hướng nghiên cứu ở nước ta. Trong đó có các hướng chính như: - Xác định những vấn đề lý luận cốt lõi về KNS và GD KNS, đó là các nghiên cứu của các tác giả Đặng Quốc Bảo, Dương Tự Đàm; Phạm Minh Hạc; Phạm Đình Nghiệp.
- Nghiên cứu so sánh GD KNS ở Việt Nam với một số quốc gia khác: kết quả của hướng nghiên cứu này cho thấy nghiên cứu về KNS và GD KNS ở Việt Nam xuất phát từ yêu cầu của xã hội hiện nay; từ nhiệm vụ triển khai chiến lược và đổi mới GD phổ thông; từ xu thế GD thế giới và từ sự phát triển nội tại của khoa học GD nói chung và bước đầu đã đạt được những thành tựu nhất định. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự [5] đã trình bày tương đối đầy đủ và hệ thống về tiếp cận và thực hiện GD KNS cho HS do ngành GD thực hiện. Nội dung của GD nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu GD KNS. Theo đó các nội dung GD KNS cụ thể đã được triển khai ở các cấp học như sau: + Ở bậc Mầm non chú ý đến GD cho trẻ hành vi, kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng giao tiếp ứng xử.
Đồng thời chú trọng đến các nội dung như: phát triển thể chất, nhận thức, phát triển ngôn ngữ, tình cảm, nghệ thuật và thẩm mỹ của trẻ. Trong tất cả các nội dung đều chứa đựng nội dung KNS. + GD KNS ở bậc tiểu học tập trung vào các KN chính như KN đọc, viết, tính toán, nghe, nói; coi trọng khả năng thích ứng với những thay đổi 11 diễn ra trong cuộc sống hàng ngày; hình thành các KN tư duy sáng tạo, phê phán; KN ra quyết định và giải quyết vấn đề; phát triển trí tưởng tượng. + GD KNS cho HS THCS chú trọng GD các KN cơ bản cho HS như: năng lực thích nghi; năng lực hành động; năng lực ứng xử; năng lực tự học suốt đời; định hướng để HS học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để tự khẳng định.