Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung luận án đƣợc trình bày trong 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu vấn đề giáo dục GDĐĐTT cho học sinh THPT. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh THPT trong bối cảnh hiện nay. Chƣơng 3: Thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh các trƣờng THPT tỉnh Thái Bình hiện nay. Chƣơng 4: Giải pháp quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh THPT tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hiện nay.
z 11 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Do tính chất của đề tài và điều kiện thực tế, tác giả LA gặp khó khăn khi tìm kiếm những nghiên cứu ở nƣớc ngoài về GDĐĐTT. Các tài liệu nghiên cứu tập hợp đƣợc chủ yếu là loại thứ cấp và gián tiếp. Xin đƣợc tổng quan và khái quát tình hình nghiên cứu vấn đề liên quan đến đề tài nhƣ sau: 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài 1.
Về đạo đức, giá trị đạo đức và văn hóa đạo đức Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử. Những tƣ tƣởng về đạo đức, giá trị đạo đức và về đạo đức học đã hình thành hơn 2500 trƣớc đây trong triết học cổ đại (Ấn Độ, Trung Quốc cổ đại ở Phƣơng Đông và Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại ở phƣơng Tây). Ở Trung Quốc: Khổng Tử (551- 479 TCN) cổ đại đề cao hình mẫu ngƣời “chính nhân quân tử” với đầy đủ các đức tính Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín (ngũ thƣờng). Hệ thống đạo đức của Khổng Tử dựa trên chữ “Nhân” và chữ “Đức” để chỉnh đốn ý thức cá nhân “tu thân, tích đức, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.
Dựa theo mức độ tu dƣỡng đạo đức, Khổng Tử chia thành ba hạng ngƣời: Thánh nhân, Quân tử và Tiểu nhân. Trong đó, Tiểu nhân là kẻ "hèn mọn", hành động không biết tới đạo đức [50]. Quan niệm về đạo đức của Khổng tử là trụ cột của hệ thống đạo đức Nho gia và đƣợc coi là nền tảng của ĐĐTT của nhiều dân tộc Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên) và Đông Nam Á (Việt Nam). Đã đƣa ra mấy loại định hƣớng giá trị: (1) Định hƣớng cá nhân tuyệt đối: chỉ vì lợi ích cá nhân - cần kịch liệt lên án định hƣớng này; (2) Định hƣớng cạnh tranh: hƣớng vào giành kết quả có lợi cho mình, nhƣng trong quan hệ với ngƣời khác, hai bên cùng có lợi, nhƣng mình có lợi hơn; (3) Định hƣớng hợp tác: cùng hợp tác và cùng thắng; (4) Định hƣớng vị tha: ai cần thì mình giúp, thậm chí có thể hy sinh quyền lợi của bản thân để giúp ngƣời khác.
Từ phân loại định hƣớng giá trị xã hội đi đến phân loại hành vi tích cực mà xã hội mong đợi: (1) Hành vi hợp tác; (2) Hành vi tƣơng trợ; (3) Hành vi từ thiện; (4) Hành vi bảo vệ môi trƣờng; (5) Hành vi điều đình [dẫn theo 44]. Cuối thế kỷ XX đã đề ra “Hệ giá trị Singapore” gồm 5 điểm: (1) quốc gia trên hết, xã hội đầu tiên; (2) gia đình là gốc, xã hội là thân; (3) quan tâm giống nhau đồng cam cộng khổ; (4) tìm cái đồng, gạt bất đồng, hiệp thƣơng cùng z 12 hiểu biết; (5) chủng tộc hài hoà, tôn giáo khoan dung. Đến năm 2004, Bộ Giáo dục Singapore công bố mới Hệ giá trị của ngành gồm 4 điểm: (a) chính trực; (b) con ngƣời là tiêu điểm, phát huy cái tốt của mọi ngƣời; (c) đam mê học tập, học tập là đƣờng đời, đón tƣơng lai; (d) chất lƣợng [dẫn theo 45]. Dựa trên 12 giá trị toàn cầu (Universal values (taken from Lickona 1997), Bộ Giáo dục và Văn hóa Indonesia đã đƣa ra cho các trƣờng học 17 giá trị, trong đó có các giá trị truyền thống dân tộc: Tính trung thực/ lòng khoan dung/ Tính kỷ luật / sự làm việc chăm chỉ/ Tính sáng tạo / Tính độc lập/ Tính dân chủ/ Ham học hỏi / Lòng yêu nƣớc / Chủ nghĩa dân tộc / Đánh giá cao thành tích/ Thân thiện, giao tiếp / Kiến tạo hòa bình / Ngƣời đọc giỏi / Ý thức về môi trƣờng/ Ý thức xã hội/ Có trách nhiệm.
Từ bảng trên cho thấy chính quyền giáo dục cố gắng chấp nhận nhiều giá trị khác nhau. Các giá trị của “tôn giáo” cũng đƣợc chấp nhận, do đó, trƣờng học và giáo viên có thể ƣu tiên giá trị này trong kế hoạch bài học của họ [U. Về đạo đức truyền thống, giáo dục ĐĐTT và quản lý GDĐĐTT Nghiên cứu trƣờng hợp ở một số quốc gia có nền giáo dục phát triển. Nƣớc Mỹ rất chú trọng “giá trị”.
Mỗi ngƣời dân Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ luôn tự hào đƣợc là công dân Mỹ và về các “giá trị Mỹ” nhƣ là giá trị văn hóa truyền thống của nƣớc Mỹ. Tổng thống thứ hai của Mỹ John Adams, 200 năm trƣớc đã từng nói: “Trẻ em nên đƣợc giáo dục dựa theo nguyên tắc tự do”. Những công dân Mỹ tƣơng lai đƣợc định hình bởi giá trị cốt lõi là tự do đi kèm với tự chủ và ý thức tự tôn quốc gia [dẫn theo H. Hầu hết các bang của nƣớc Mỹ không có môn Giáo dục đạo đức (Morals Education) dạy trong trƣờng học, mà có các hoạt động chủ đề về GDĐĐ “cắt ngang” (across) chƣơng trình giảng dạy và cũng chỉ chủ yếu ở các lớp tiểu học.
“Không có nhiều thỏa thuận về giáo dục đạo đức nên là gì, và không có "môn học" của giáo dục đạo đức tƣơng ứng với các quy định các khóa học. Tuy nhiên, giáo dục đạo đức thƣờng đƣợc tích hợp một cách hợp lý vào tất cả các khóa học, cũng nhƣ trong các hoạt động ngoại khóa và đặc thù của trƣờng học… "Giáo dục đạo đức" là một thuật ngữ chung cho hai nhiệm vụ và cách tiếp cận khá khác nhau: Thứ nhất, là nhiệm vụ nuôi dƣỡng những đức tính và giá trị làm cho con cái trở nên công dân tốt. Nhiệm vụ thứ hai của giáo dục đạo đức là cung cấp cho học sinh các nguồn thông tin trí tuệ giúp họ đƣa ra các phán đoán và có trách nhiệm về những vấn đề khó khăn có tầm quan trọng đạo đức. Cả hai đều là những nhiệm vụ z 13 quan trọng của các trƣờng học - và cả hai nhiệm vụ đều “cắt ngang” (across) chƣơng trình giảng dạy [138].
Ở Pháp, môn Giáo dục công dân đóng vai trò quan trọng giúp hình thành nền tảng đạo đức, tƣ duy phản biện cho các thế hệ tƣơng lai của đất nƣớc. Ngƣời Pháp tự hào là thủ đô “ánh sáng văn hóa” của Châu Âu và thế giới và họ biết giáo dục, truyền lại niềm tự hào tầm cỡ quốc gia đó cho các thế hệ trẻ. Mặt khác, một số giá trị VHĐĐ khác cũng đƣợc đề cao trong nhà trƣờng: “Ở bậc tiểu học, môn giáo dục công dân cũng chú trọng tình cảm gia đình, song không nhấn mạnh đến các khía cạnh nhƣ ngoan hiền, vâng lời nhƣ trong nội dung môn học này ở Việt Nam” [N. Phần Lan đang là quốc gia hàng đầu về chất lƣợng giáo dục.
Trong quyển sách “Thế giới có thể học hỏi điều gì từ nền giáo dục Phần Lan”, tác giả Pasi Sahlberg, nhà giáo dục nổi tiếng, Tổng Giám đốc Trung tâm Luân chuyển và Hợp tác quốc tế Phần Lan, đã chỉ ra rằng giáo dục Phần Lan dựa trên triết lý niềm tin - yếu tố tạo ra chính sách, với phƣơng pháp dạy học rất đặc trƣng Phần Lan: “Những tinh hoa thực sự của giáo dục Phần Lan nằm ở triết lý về giáo dục: Phải có niềm tin vào con ngƣời”. Giáo dục cho trẻ em và học sinh niềm tin vào con ngƣời nhƣ là các giá trị nhân văn và là phẩm chất đạo đức then chốt của nhân cách, đã làm nên thành công của nền giáo dục Phần Lan [126]. Nhật Bản là quốc gia có nền giáo dục hàng đầu, không chỉ của khu vực Châu Á, mà còn của toàn cầu. Giáo dục đạo đức ở Nhật Bản đƣợc xây dựng trên nền tảng các giá trị gia đình và văn hóa truyền thống, đƣợc thực hiện ƣu tiên so với tất cả môn học khác trong chƣơng trình giáo dục phổ thông.
Giáo dục đạo đức ở Nhật Bản tập trung vào ba giá trị cốt lõi: lòng tôn trọng cuộc sống, quan hệ cá nhân và cộng đồng và ý thức về “trật tự dọc” (Kỷ cƣơng, tôn ti xã hội). Ý thức tôn ti xã hội, vốn bắt nguồn từ tƣ tƣởng đạo Khổng, song hiện nay vẫn đƣợc đề cao, rất đƣợc tôn trọng và tuân thủ nghiêm ngặt trong xã hội Nhật. Từ gia phong gia đình và giáo dục nhà trƣờng, từ đạo đức cá nhân, ý thức tôn ti xã hội đã chuyển hóa vào các đơn vị cơ sở của xã hội, bao gồm cả ở trƣờng học và doanh nghiệp “các thành viên gắn kết với nhau bởi tình cảm tự nhiên và sự tôn trọng thế hệ đi trƣớc hơn là bởi nguồn lực và khả năng” [1]. Trung Quốc tiêu biểu cho một quốc gia đang phát triển, có tốc độ phát triển kinh tế hàng đầu thế giới.
Nghiên cứu về GDĐĐTT không thể không xem xét trƣờng hợp Trung quốc, là đất nƣớc tiêu biểu về các giá trị VHTT lâu đời gắn với các giá trị tôn giáo đạo Phật, đạo Nho (Khổng giáo). z 14 Nhiều bài viết của các nhà khoa học Trung Quốc đƣợc tập hợp trong thông tin chuyên đề “Những vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trƣờng” đã tập hợp nhiều công trình nghiên cứu công phu, đề cập tới sự tác động của nền kinh tế thị trƣờng với đạo đức, giá trị ĐĐTT dân tộc, mối quan hệ giữa đạo đức với kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trƣờng. Trong đó nhấn mạnh: cuộc đổi mới toàn diện đất nƣớc (Trung Quốc) làm nảy sinh nhiều vấn đề mới trong xã hội, vì thế vấn đề đạo đức cũng phải đƣợc nghiên cứu trong điều kiện kinh tế thị trƣờng với những tác động đa chiều, đan xen của nó [92]. Nhà nƣớc Trung Quốc xác định những giá trị cần giáo dục cho ngƣời dân.
Đó là: (i) Yêu nƣớc, không làm gì có hại cho đất nƣớc; (ii) Phục vụ nhân dân, không bao giờ phản bội; (iii) Tin theo khoa học, loại bỏ mê tín; (iv) Siêng năng không biếng nhác; (v) Đoàn kết giúp đỡ nhau, không hại ngƣời để lợi mình; (vi) Trung thực và đáng tin cậy, không hy sinh đạo đức cho lợi nhuận; (vii) Có kỷ luật và tuân thủ luật pháp; (viii) Không lãng phí xa hoa.