Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông. - Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT C Kim Bảng, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. - Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT C Kim Bảng, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam trong bối cảnh hiện nay. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về giáo dục đạo đức Ở mọi thời đại, ở bất cứ quốc gia nào thì đạo đức vẫn luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, với những chuẩn mực, giá trị đúng đắn. Cho dù ở giai đoạn nào của lịch sử loài người thì chuẩn mực chung của đạo đức vẫn là hướng thiện, chống lại cái ác hướng tới quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên và xã hội. Đồng thời đạo đức cũng khẳng định khả năng tự tu dưỡng, tự giáo dục của mỗi cá nhân, cho nên đạo đức và giáo dục đạo đức luôn luôn được quan tâm, trú trọng ở mọi thời đại.
Ở phương Tây, nhà triết học Socrate (469-399 TCN) cho rằng, cái gốc của đạo đức là tính thiện, bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được nuôi dưỡng, phát triển thì con người sẽ có hạnh phúc. Theo ông, chuẩn mực đạo đức phải được nhận thức bằng lý tính kết hợp với phương pháp nhận thức khoa học. Theo Rabơlen (1494-1553), nhà tư tưởng giáo dục thời kỳ phục hưng và là đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp thì giáo dục phải bao hàm cả “Trí dục, Đức dục, Thể dục, Mỹ dục” và ông đã có sáng kiến tổ chức các hình thức giáo dục như việc học tập ở lớp, ở nhà, ngoài ra còn có các buổi tham quan ở xưởng thợ, các cửa hàng, với các nhà văn, các nghệ sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy, cô và học trò về sống ở nông thôn một ngày.[11] Vào thế kỷ XX, nhà giáo dục nổi tiếng người Nga A. Makarenko đã nêu lên nguyên tắc giáo dục tập thể và thông qua tập thể.
Trong tác phẩm “Bài ca sư phạm” ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của giáo dục đạo đức. Ở phương Đông, vấn đề giáo dục đạo đức được quan tâm từ rất sớm. Khổng Tử (551 - 479 TCN), nhà giáo dục lớn của Trung hoa phong kiến mà tư tưởng của ông đã trở thành một “Đạo” có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ ở 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trung Quốc mà ở nhiều quốc gia khác. Ông đề cao đường lối “Đức trị” để trị quốc an dân, phát triển đất nước.
Theo quan điểm “Ngũ thường” của ông thì yếu tố đạo đức được đặt lên hàng đầu “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”. Ông coi “Nhân” là gốc rễ của các đức khác. Ông được người đời tôn làm “Vạn thế sư biểu”. [31] Như vậy có thể thấy cả ở phương Đông lẫn phương Tây đều rất chú trọng đề cao vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức qua đó hình thành và phát triển nhân cách của con người.
Ở Việt Nam, vấn đề GDĐĐ đã và đang trở thành mối quan tâm của các nhà sư phạm nói chung và các nhà quản lý giáo dục nói nói riêng. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu những quan điểm đạo đức Mác - Lênin và có những quan điểm rất tiến bộ về đạo đức cách mạng. Đạo đức Cách mạng mà Hồ Chí Minh quan tâm và đề cao không chỉ là đạo đức theo nghĩa thông thường mà là khẳng định những giá trị đạo đức truyền thống, đồng thời tiếp thu phát triển tinh hoa đạo đức của nhân loại, đặc biệt là nội dung tư tưởng đạo đức của chủ nghĩa Mác - Lênin. Theo Người: “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu, nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải là danh vọng của cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người.” [29] Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của người Cách mạng.
Nội dung cơ bản trong quan điểm đạo đức Cách Mạng là: Trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư; yêu thương con người; tinh thần quốc tế trong sáng. Quan điểm của Người về đạo đức là những quan điểm thật sự khoa học, biện chứng Mác-xít, phù hợp với sự tiến hóa của loài người. Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về đạo đức. Từ tư tưởng đến thực tiễn Người luôn chăm lo đến giáo dục đạo đức.
Người ví “Đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người”; “Cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nước thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo” [29]. Người đã từng khái quát về triết lý cuộc sống: “Nghĩ cho cùng, mọi 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vấn đề … là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức”.[30] Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc ta một di sản vô giá, đó là tư tưởng của Người, trong đó có tư tưởng đạo đức.
Người đã xác định nhân tố con người là động lực của sự phát triển: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa (XHCN)”. Người còn đề ra những chuẩn mực đạo đức cụ thể đối với từng lớp người phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, trách nhiệm của lớp người đó. Với thanh niên, trong “Di chúc” thiêng liêng Người căn dặn: “Phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa vừa hồng, vừa chuyên”. Để có được đạo đức Cách mạng, mỗi người phải chăm lo tu dưỡng, kiên trì bền bỉ suốt đời.
Người còn chú ý đến con đường, phương pháp xây dựng đạo đức Cách mạng: “Đạo đức Cách mạng không phải trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.” [30] Trong mấy chục năm xây dựng nhà nước XHCN và đặc biệt, trong khoảng gần 20 năm đổi mới, Đảng cộng sản Việt Nam qua các văn kiện đã thường xuyên thể hiện sự quan tâm chỉ đạo vấn đề xây dựng con người Việt Nam qua từng thời kỳ. Theo đó nhiều công trình nghiên cứu khoa học quan tâm đến vấn đề này. Các nghiên cứu thường đi sâu vào việc xác định các nội dung đạo đức, các định hướng về giá trị đạo đức, các biện pháp giáo dục đạo đức sinh viên và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức. Thực tế, có rất nhiều học giả đã có những nghiên cứu cơ bản về vấn đề này.
Tác giả Phạm Minh Hạc, trong nhiều nghiên cứu chuyên luận về con người Việt Nam cũng đã nêu lên các định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH – HĐH) và bàn về thực trạng cũng như các giải pháp ở phần vĩ mô về giáo dục - đào tạo (GD - ĐT) con người Việt Nam theo định hướng trên. Về mục tiêu GDĐĐ, Phạm Minh Hạc đã nêu: “Trang bị cho mọi người mọi tri thức cần thiết về tư tưởng chính trị, đạo đức nhân văn, kiến thức pháp luật và văn hóa xã hội. Hình 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành ở mọi công dân thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin, đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người, sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiện tượng xảy ra xung quanh. Tổ chức tốt giáo dục giới trẻ, rèn luyện để mọi người tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành quy định của pháp luật, nỗ lực học tập rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp CNH – HĐH đất nước”.[16] Trần Hậu Kiểm và Đoàn Đức Hiếu trong cuốn “Hệ thống phạm trù đạo đức và giáo dục đạo đức cho sinh viên” đã khái quát hóa những phạm trù cơ bản của đạo đức đó là: lẽ sống, hạnh phúc, danh dự, nghĩa vụ và lương tâm; thiện và ác.
Những phạm trù này phản ánh những nội dung khách quan của đời sống xã hội, có liên hệ hữu cơ với tình cảm con người trong mối quan hệ con người với đời sống xã hội và dẫn đến quan điểm chủ quan trong một số sự việc, hiện tượng nhất định. [23] Tác giả Phạm Khắc Chương và Trần Văn Chương đã phân tích quá trình phát triển tâm sinh lý của học sinh THPT, về tình bạn, tình yêu, khẳng định đại đa số học sinh là hiếu học, ngoan ngoãn, thông minh và chỉ có một bộ phận học sinh hư mà người có lỗi lại chính là người lớn chúng ta. Trong chương VI đề cập một số vấn đề cần quan tâm trong giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh, trong đó các tác giả cũng đã xây dựng chuẩn mực về đạo đức mới trong gia đình, trong học tập, trong tình bạn, tình yêu và trong giao tiếp. Trong chương VII đề cập đến việc học tập, tu dưỡng đạo đức theo gương cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đặc biệt trong chương VIII các tác giả đề xuất một số phương pháp giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường THPT bằng một số nhóm phương pháp cụ thể và bằng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cũng như mối quan hệ giữa các phương pháp đó. [9] Về GDĐĐ cho học sinh, có nhiều tác giả có những công trình đóng góp có giá trị như Vũ Khiêu, Phạm Minh Hạc, Đặng Vũ Hoạt, Phạm Khắc Chương, Đặng Quốc Bảo. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả Đặng Vũ Hoạt đã nghiên cứu vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong quá trình GDĐĐ cho học sinh và đưa ra một số định hướng đổi mới nội dung, phương pháp GDĐĐ cho học sinh phổ thông. Tác giả Phạm Khắc Chương với công trình nghiên cứu: “Một số vấn đề GDĐĐ ở trường THPT - Rèn ý thức đạo đức công dân”.
Đặng Quốc Bảo với nghiên cứu: “Một số ý kiến về nhân cách thế hệ trẻ, thanh niên, sinh viên và phương pháp giáo dục”.