Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ RÈN LUYỆN HÀNH VI ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Đạo đức là một bộ phận quan trọng trong các hình thái ý thức xã hội.
Theo quan niệm mác-xít, đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực hành vi của con người và đánh giá cách ứng xử trong quan hệ của người này với người khác, việc thực hiện nghĩa vụ của con người đối với xã hội. Nó thường được hiểu là những phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng và rèn luyện theo những chuẩn mực xã hội, những tiêu chuẩn đạo đức mà có (dẫn theo Nguyễn Chí Mỳ, 2004). Căn cứ vào những chuẩn mực đó, người ta đánh giá hành vi của người khác và của chính mình. Các chuẩn mực đạo đức có thể không được ghi thành văn bản pháp quy (những cái bắt buộc mỗi người phải thực hiện) nhưng chúng vẫn được mọi người thực hiện do sự thôi thúc của lương tâm cá nhân và dư luận xã hội.
Ở phương Tây, nhà triết học Socrate coi cái gốc của đạo đức là tính thiện, đạo đức và sự hiểu biết qui định nhau, tức là có đạo đức là nhờ sự hiểu biết và con người sau khi có hiểu biết mới trở thành đạo đức (Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, 1998). Aristoste - nhà Triết học người Hy Lạp, cho rằng thượng đế không áp đặt để có công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức (Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, 1998). Theo quan điểm của Pestalozzi - nhà giáo dục người Thụy Sĩ - nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục là Giáo dục đạo đức cho trẻ em trên cơ sở là tình yêu thương con người. Tình yêu ấy bắt nguồn từ gia đình, trước hết là đối với Luan van 8 cha mẹ, anh chị em rồi đến bạn bè và mọi người trong xã hội.
Tình yêu thương con người của trẻ em sớm hình thành trong gia đình, sau đó sẽ tiếp tục củng cố và phát triển trong trường học. Ăngghen - người sáng lập ra học thuyết cộng sản, hai ông xác định mục đích của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa là đào tạo ra con người phát triển toàn diện. Muốn như thế, phải theo phương thức “giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”, đây chính là phương thức giáo dục hiện đại. Quan điểm của J.
Locke - nhà triết học người Anh - dựa trên cơ sở của tabula rasa (từ Latin: có nghĩa là một tấm thẻ gỗ nhẵn bóng hay tấm bảng trắng, thuật ngữ dùng trong lí thuyết về nhận thức luận để chỉ việc con người sinh ra chưa hề biết gì về thế giới, còn “trắng” và toàn bộ nguồn tri thức được xây dựng dần dần từ trải nghiệm và tri giác về thế giới bên ngoài). Theo đó, đứa trẻ khi sinh ra như tờ giấy trắng, mọi hành vi của trẻ được hình thành thông qua kinh nghiệm mà trẻ có được trong quá trình tăng trưởng. Thông qua hướng dẫn cụ thể, làm mẫu, khen thưởng, củng cố, trẻ sẽ phát triển theo mong đợi của người lớn (Locke, John, 1894). Theo thuyết học tập xã hội của Albert Bandura - nhà tâm lí học người Canada, quan sát đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hình thành hành vi ở trẻ em.
Thông qua quá trình quan sát người khác thực hiện hành động (bao gồm cả cha mẹ và bạn đồng trang lứa) và phân tích cá nhân về tình huống, mỗi trẻ thực hiện hành vi khác nhau (Bandura, 1977). Giáo dục Xô Viết trước đây xác định giáo dục đạo đức nói chung, rèn luyện hành vi đạo đức nói riêng là nhiệm vụ rất quan trọng ở nhà trường. Các nhà giáo dục học như A. đã có những công trình nghiên cứu chứng minh giáo dục hành vi đạo đức là rất cần thiết, đặc biệt đối với học sinh nhỏ tuổi và giáo dục hành vi đạo đức là nền tảng để trẻ có hành vi ứng xử đúng đắn trong thực tiễn.
Luan van 9 Vào thế kỷ XX, nhà sư phạm A. Macarenco của Liên Xô với tác phẩm “Bài ca sư phạm” đã đề cập đến vấn đề giáo dục công dân (giáo dục trẻ em phạm pháp và không gia đình). Trong tác phẩm này ông đã nhấn mạnh đến vấn đề giáo dục đạo đức thông qua nhiều phương pháp như phương pháp nêu gương, giáo dục bằng tập thể và thông qua tập thể. Tại Hội nghị khoa học “Đẩy mạnh giá trị nhân văn, đạo đức, văn hóa quốc tế” tổ chức ở Tokyo vào tháng 2 năm 1994 với sự tham gia của 12 nước trong khu vực.
Hội nghị đã tổng kết kinh nghiệm và đã thống nhất đưa ra mô hình giáo dục giá trị nhân văn, đạo đức, văn hóa quốc tế gồm 8 nhóm giá trị: 1/ Nhóm giá trị liên quan đến quyền con người; 2/ Nhóm giá trị liên quan đến dân chủ; 3/ Nhóm giá trị liên quan đến hợp tác và hòa bình; 4/ Nhóm các giá trị liên quan đến bảo vệ môi trường; 5/ Nhóm giá trị liên quan đến bảo vệ di sản văn hóa; 6/ Nhóm các giá trị liên quan đến bản thân và những người khác; 7/ Nhóm các giá trị liên quan đến tính dân tộc; 8/ Nhóm liên quan đến tâm linh Như vậy từ nhiều thế kỉ trước, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã thấy được vai trò quan trọng của việc giáo dục hành vi đạo đức, hình thành phẩm chất con người toàn diện để xây dựng xã hội. Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu mới chỉ tập trung đến vai trò của giá trị đạo đức con người mà chưa đề cập đến biểu hiện và cách thức rèn luyện các hành vi đạo đức cụ thể cho học sinh tiểu học. Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục đạo đức cho con người Việt Nam cũng được các nhà giáo dục học quan tâm nghiên cứu. Điều này thể hiện ở các công trình như "Giáo trình đạo đức" của Trần Đăng Sinh – Nguyễn Thị Thọ; Luan van 10 tác phẩm “Đạo hiếu - nhân cách của con người Việt Nam” của Phạm Khắc Chương; “Những vấn đề giáo dục đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta” của Nguyễn Quang Uẩn và Nguyễn Văn Phúc; “Phương pháp giáo dục cho trẻ em hư” của Phạm Công Sơn – Tô Quốc Tuấn (1997),… Năm 1979, Bộ Chính trị và Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra nghị quyết về đổi mới giáo dục.
Ủy ban Cải cách Giáo dục Trung ương đã tăng cường vận động giáo dục đạo đức cách mạng trong trường học, quyết định ghi rõ: “Nội dung đạo đức cần được giáo dục cho học sinh từ Mẫu giáo đến Đại học, nội dung chủ yếu dựa vào 5 điều Bác Hồ dạy.” Tại Điều 27, mục I, chương II, Luật Giáo dục của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành vào năm 2009 (đã được sửa đổi, bổ sung) xác định “Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” Hội đồng lý luận Trung ương đã thực hiện đề tài nghiên cứu về "Con người Việt Nam trong giai đoạn Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa". Nghiên cứu này khẳng định một tư tưởng chung là: hạt nhân cơ bản của thang giá trị, thước đo giá trị và nhân phẩm con người Việt Nam ngày nay là các giá trị nhân văn truyền thống dân tộc như lòng tự hào dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc, trung với nước, hiếu với dân, nhân nghĩa, cần cù, thông minh, sáng tạo. Với định hướng chiến lược xây dựng đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện theo hướng này, như: “Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa” của Lê Ngọc Văn (1996); Đề tài nghiên Luan van 11 cứu cấp Nhà nước “Vị trí, vai trò của gia đình và cộng đồng trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” do Ủy Ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em thực hiện năm 1999-2000. Tất cả các công trình nghiên cứu này đều nói đến chức năng và vai trò rất quan trọng của gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ em.
Tại Hội thảo“Giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở nước ta hiện nay – Thực trạng và giải pháp” do Hội Khoa học tâm lý – Giáo dục Việt Nam tổ chức tại Đồng Nai năm 2009, Phạm Minh Hạc phát biểu: “Yếu tố quyết định là ý thức tự giáo dục thực sự nghiêm khắc – sự phấn đấu hướng thiện của từng cá nhân, nhất là của học sinh các lớp cuối cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông và sinh viên,…kết hợp chặt chẽ giáo dục đạo đức trong nhà trường với gia đình và ngoài xã hội, giáo dục đạo đức cho tuổi trẻ, đặc biệt là học sinh, sinh viên đã và đang trở thành nhiệm vụ cấp bách, nhiệm vụ hàng đầu của các gia đình, nhà trường và toàn xã hội”. Bài phát biểu này của Phạm Minh Hạc cũng đã nhấn mạnh việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên trong đó có học sinh trường trung học cơ sở là một vấn đề nổi cộm và cấp thiết trong xã hội hiện nay. Đề tài “Cải tiến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống cho học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân” của tác giả Phạm Tất Dong (1990) đã đi sâu vào nghiên cứu cơ sở tâm lý học của hoạt động giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp, gắn kết các hoạt động này với hoạt động giáo dục đạo đức nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đạo đức nghề nghiệp và lý tưởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ; đã mang lại nhiều nội dung mới về giáo dục đạo đức, chính trị tư tưởng trong các trường từ tiểu học đến đại học những năm đầu 90. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, mã số B2007.27 "Sự lựa chọn các giá trị đạo đức nhân văn trong định hướng lối sống của sinh viên ở một Luan van 12 số trường đại học thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Huỳnh Văn Sơn đã khảo sát 874 sinh viên từ các trường đại học.