Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển quốc gia, giáo dục và đào tạo luôn giữ vị trí "quốc sách hàng đầu" với sứ mạng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Bên cạnh việc trang bị tri thức khoa học và chuyên môn kỹ thuật, giáo dục đạo đức là yếu tố nền tảng định hình nhân cách và giá trị con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh "đạo đức là cái gốc của người cách mạng" và khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa đức và tài trong sự phát triển của mỗi cá nhân.

Lứa tuổi học sinh trung học phổ thông (THPT) đại diện cho lực lượng kế cận của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đang trong giai đoạn phát triển then chốt về tâm sinh lý và nhân cách. Dưới tác động đa chiều của quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, phần lớn học sinh vẫn duy trì truyền thống văn hóa, tích cực rèn luyện. Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ xuất hiện lối sống thực dụng, suy giảm định hướng giá trị đạo đức và chịu ảnh hưởng tiêu cực từ các tệ nạn xã hội.

Trường THPT Bùi Thị Xuân (Quận 1, TP. Hồ Chí Minh) là cơ sở giáo dục có bề dày thành tích, điểm chuẩn tuyển sinh đầu vào luôn ở nhóm dẫn đầu thành phố và tỷ lệ tốt nghiệp, trúng tuyển đại học đạt tuyệt đối. Tuy nhiên, áp lực thành tích học tập đã dẫn đến xu hướng "học chữ hơn học làm người", khiến việc tiếp thu các chuẩn mực đạo đức và bài học môn Giáo dục công dân (GDCD) của học sinh gặp nhiều rào cản. Xuất phát từ thực tế đó và trải nghiệm qua kỳ thực tập sư phạm, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức thông qua môn GDCD tại đơn vị này.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là xác định phương hướng và tìm ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh THPT nói chung và học sinh trường THPT Bùi Thị Xuân, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh nói riêng. Để hiện thực hóa mục đích này, đề tài thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Làm rõ những nội dung cơ bản của đạo đức.
  2. Phân tích vai trò, ý nghĩa của giáo dục đạo đức cho học sinh THPT và tác động của kinh tế thị trường tới quá trình này trong giai đoạn hiện nay.
  3. Đánh giá tình hình giáo dục đạo đức cho học sinh tại trường THPT Bùi Thị Xuân, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh.
  4. Đề xuất một số giải pháp cơ bản, khả thi nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua môn GDCD.
  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh THPT.
  • Phạm vi nghiên cứu: Học sinh trường THPT Bùi Thị Xuân, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, cùng các văn kiện, chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam và ngành giáo dục:

  • Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII;
  • Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX;
  • Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) "Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá";
  • Thông tư số 12 của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
  • Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các định nghĩa từ Từ điển Triết học, Giáo trình Đạo đức học của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2000), quan điểm của GS. Phạm Minh Hạc (1996) về đạo đức theo nghĩa hẹp (chuẩn mực ứng xử) và nghĩa rộng (cấu thành nhân cách liên hệ với chính trị, pháp luật, lối sống). Đồng thời, đề tài kế thừa các công trình nghiên cứu về đạo đức học và giáo dục đạo đức của GS. Vũ Khiêu (1974), GS.VS. Nguyễn Duy Quý (2006), PGS.TS. Trần Hậu Kiêm và TS. Đoàn Đức Hiếu (2004), Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Phúc (2003), Dương Văn Duyên (2003), cùng các luận văn, luận án chuyên ngành của Trần Sỹ Phán (1999), Phạm Thị Thanh Ngoan (2011), Nguyễn Thị Định (2014), Nguyễn Thị Hằng Nga (2016).

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng gồm:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết, logic học và so sánh;
  • Phương pháp điều tra xã hội học thông qua bảng hỏi khảo sát trực tiếp $n = 203$ học sinh tại trường THPT Bùi Thị Xuân;
  • Phương pháp thống kê, xử lý và phân tích dữ liệu định lượng bằng phần mềm SPSS và bảng tính Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tầm quan trọng, nội dung, yêu cầu giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay

Chương 1 tập trung làm rõ các khái niệm công cụ, phân tích đặc điểm tâm sinh lý học sinh THPT (độ tuổi từ 15 đến 19 tuổi, tương ứng các lớp từ 10 đến 12), và xác định các yêu cầu giáo dục đạo đức trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Tác giả xác định 7 nội dung giáo dục đạo đức cốt lõi đối với học sinh THPT:

  1. Giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần tự hào dân tộc và lòng trung thành với Tổ quốc, nhân dân.
  2. Giáo dục lý tưởng sống cao đẹp, ước mơ và hoài bão lớn lao gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  3. Giáo dục lòng nhân ái, vị tha, tinh thần vì cộng đồng.
  4. Giáo dục tình bạn, tình yêu chân chính, trong sáng, thủy chung, đúng mực với lứa tuổi.
  5. Giáo dục tinh thần tự giác, ý chí phấn đấu vươn lên, trách nhiệm trong học tập và lao động, tính trung thực trong thi cử.
  6. Giáo dục tinh thần tập thể, tính cộng đồng và tinh thần sẵn sàng phục vụ nhân dân.
  7. Giáo dục kỹ năng sống theo chuẩn mực đạo đức tiến bộ và văn hóa học đường.

Đồng thời, chương này phân tích 5 vai trò đặc thù của môn GDCD ở cấp THPT:

  • Trang bị hệ thống tri thức khoa học xã hội phổ thông, cơ bản và thiết thực;
  • Hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học (thông qua triết học ở lớp 10 và kinh tế chính trị ở lớp 11);
  • Bồi dưỡng phẩm chất chính trị, tư tưởng, ý thức pháp luật và trách nhiệm công dân;
  • Trực tiếp giáo dục các chuẩn mực giá trị đạo đức (nghĩa vụ, lương tâm, nhân phẩm, danh dự, hạnh phúc);
  • Nâng cao chất lượng tiếp thu và hỗ trợ định hướng phương pháp học tập các môn học khác.

Chương 2: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Bùi Thị Xuân, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh

Trường THPT Bùi Thị Xuân tiền thân là trường Trung học Nguyễn Bá Tòng thành lập năm 1956, đổi tên từ năm học 1977 - 1978. Trong năm học 2016 - 2017, trường có quy mô 1.831 học sinh (gồm 14 lớp khối 10, 15 lớp khối 11, 15 lớp khối 12). Đội ngũ giảng dạy môn GDCD gồm 3 giáo viên (1 cử nhân, 2 thạc sĩ), phụ trách định mức 15 tiết/tuần/giáo viên.

Về thành tựu, chất lượng học lực và hạnh kiểm của nhà trường liên tục giữ mức cao trong giai đoạn 2013 - 2016:

Năm học Tổng số HS Học lực Giỏi (%) Học lực Khá (%) Học lực TB (%) Học lực Yếu (%) Hạnh kiểm Tốt (%) Hạnh kiểm Khá (%) Hạnh kiểm TB (%)
2013 - 2014 1.809 39,36% 55,72% 4,70% 0,22% 90,77% 8,62% 0,61%
2014 - 2015 1.826 41,29% 53,23% 5,37% 0,11% 93,76% 6,24% 0,00%
2015 - 2016 1.831 42,55% 51,45% 5,95% 0,05% 96,61% 3,39% 0,00%

Khảo sát nhận thức trên mẫu $n = 203$ học sinh về mức độ cần thiết của giáo dục đạo đức ghi nhận: 63% đánh giá "Rất cần thiết", 31% đánh giá "Cần thiết", 4% đánh giá "Bình thường" và 2% cho là "Không cần thiết". Điểm trung bình đánh giá thực hiện các phẩm chất đạo đức đạt mức cao ở các hành vi như: Kính trọng cha mẹ (2,63/3 điểm), Đi thưa về trình (2,60), Kính trọng thầy cô (2,55), Sống lành mạnh (2,51).

Tuy nhiên, khảo sát cũng chỉ ra các tỷ lệ vi phạm đạo đức và quy chế còn tồn tại:

Hành vi vi phạm Thường xuyên (%) Thỉnh thoảng (%) Không bao giờ (%)
Nói tục, chửi thề 13,3% 43,8% 42,9%
Vượt đèn đỏ 9,4% 20,7% 70,0%
Nói dối thầy, cô 9,4% 47,3% 43,3%
Nói dối ông bà, cha mẹ 8,9% 56,7% 34,5%
Gian lận trong thi, kiểm tra 7,9% 56,7% 34,5%
Vô lễ với thầy, cô 7,9% 11,3% 80,8%
Vô lễ với ông bà, cha mẹ 5,4% 16,7% 77,8%
Gây gổ, đánh nhau 4,4% 15,8% 79,8%
Uống rượu, bia 4,4% 16,3% 79,3%
Coi thường lao động 4,4% 7,9% 87,7%
Hút thuốc lá 3,9% 4,9% 91,1%

Khi đánh giá mức độ ảnh hưởng của các hình thức giáo dục đến đạo đức, kết quả cho thấy:

  • Bài giảng môn GDCD: 90,6% học sinh lựa chọn;
  • Quá trình học tập và nội quy trường lớp: 89,7%;
  • Lời khuyên của thầy cô: 65,0%;
  • Sự gương mẫu của giáo viên, nhân viên: 59,1%;
  • Khen thưởng, động viên: 58,1%;
  • Hoạt động xã hội, từ thiện: 57,1%;
  • Tự giáo dục bản thân: 53,7%;
  • Sinh hoạt Đoàn, Hội: 52,2%;
  • Kỷ luật nghiêm minh: 51,2%.

Hạn chế trong công tác giáo dục đạo đức tại trường gồm: sự thiên lệch về truyền thụ kiến thức chuyên môn; bài giảng GDCD còn khô khan, thiết kế bài học chưa kích thích hứng thú; sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội chưa đồng bộ. Tác giả phân tích các nhóm nguyên nhân chính:

  • Từ gia đình: Áp lực kinh tế làm phụ huynh giảm thời gian chăm sóc con cái; phương pháp giáo dục sai lệch (quá nuông chiều hoặc quá nghiêm khắc, bạo lực); hoàn cảnh gia đình éo le.
  • Từ xã hội: 75,9% học sinh đánh giá bị ảnh hưởng bởi tệ nạn xã hội; 72,9% chịu ảnh hưởng tiêu cực từ mạng xã hội; sự xuất hiện của các điểm vui chơi không lành mạnh (bi-a, tiệm game, chat) quanh khu vực trường học; sự thiếu hụt các sân chơi văn hóa lành mạnh và dịch vụ hỗ trợ gia đình quản lý học sinh.

Chương 3: Các nguyên tắc cơ bản và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua dạy học môn GDCD ở trường THPT Bùi Thị Xuân, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực trạng, khóa luận xác lập 3 nguyên tắc định hướng:

  1. Giáo dục đạo đức gắn liền với việc tạo lập môi trường kinh tế - xã hội, văn hóa lành mạnh.
  2. Giáo dục đạo đức bảo đảm phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và đặc điểm đạo đức của học sinh.
  3. Giáo dục đạo đức bảo đảm tính thống nhất giữa truyền thống và hiện đại.

Trên cơ sở các nguyên tắc này, tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp chủ yếu:

  • Xây dựng môi trường học tập lành mạnh, đấu tranh phòng chống tiêu cực và tệ nạn xã hội, tăng cường giáo dục pháp luật: Xử lý triệt để các hành vi vi phạm kỷ luật học đường, ngăn ngừa sự xâm nhập của tệ nạn xã hội và kiểm soát các dịch vụ giải trí tiêu cực quanh khu vực trường học.
  • Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, giáo viên: Phát huy vai trò nêu gương đạo đức của giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn; gắn kết chặt chẽ ba môi trường giáo dục: nhà trường, gia đình và các tổ chức xã hội.
  • Phát huy vai trò môn GDCD trong giáo dục đạo đức: Đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD, cải tiến cấu trúc thiết kế bài giảng, chuyển từ lối truyền thụ lý thuyết thụ động sang tích hợp rèn luyện kỹ năng sống, thảo luận tình huống thực tế và tăng cường các hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm xã hội.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã phản ánh chi tiết thực trạng giáo dục đạo đức tại trường THPT Bùi Thị Xuân thông qua các số liệu định lượng cụ thể:

  • Làm rõ tính hai mặt trong đạo đức học sinh: Tỷ lệ hạnh kiểm tốt đạt 96,61% (năm học 2015 - 2016), song vẫn còn 13,3% học sinh thường xuyên nói tục/chửi thề, 9,4% thường xuyên nói dối thầy cô, 9,4% vượt đèn đỏ và 7,9% gian lận thi cử.
  • Khẳng định vai trò quyết định của bài học GDCD đối với nhận thức đạo đức của học sinh với 90,6% học sinh thừa nhận mức độ ảnh hưởng lớn nhất.
  • Xác định mức độ ảnh hưởng từ môi trường ngoài học đường: 75,9% học sinh chịu tác động từ tệ nạn xã hội và 72,9% từ mạng xã hội.

Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, đề tài là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên tiến hành khảo sát và đánh giá trực tiếp thực trạng giáo dục đạo đức qua môn GDCD tại trường THPT Bùi Thị Xuân, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh. Khóa luận cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm phục vụ việc điều chỉnh phương pháp giảng dạy bộ môn GDCD tại nhà trường.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực nghiệm của đề tài chỉ giới hạn trong quy mô một trường THPT (Bùi Thị Xuân, Quận 1) với mẫu điều tra 203 học sinh, chưa mở rộng so sánh đối chứng với các mô hình trường THPT ngoài công lập hoặc các trường ở địa bàn ngoại thành TP. Hồ Chí Minh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát diện rộng trên nhiều trường THPT thuộc các khu vực địa bàn khác nhau; nghiên cứu ứng dụng thử nghiệm và đánh giá định lượng hiệu quả của các giáo án môn GDCD đổi mới phương pháp sau quá trình can thiệp sư phạm.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Giáo viên trực tiếp giảng dạy môn GDCD tại các trường THPT; sinh viên thực tập và học viên chuyên ngành Sư phạm Giáo dục công dân, Giáo dục chính trị, Lý luận và phương pháp dạy học; cán bộ quản lý phụ trách công tác giáo dục đạo đức học sinh tại các cơ sở giáo dục phổ thông.
  • Nội dung tham khảo giá trị: Hệ thống bảng số liệu thống kê về học lực, hạnh kiểm và hành vi vi phạm đạo đức của học sinh; cấu trúc 7 nội dung giáo dục đạo đức; cùng hệ thống câu hỏi khảo sát thực trạng nhận thức đạo đức học đường.

Câu hỏi thường gặp

1. Khảo sát thực tế của khóa luận được thực hiện trên cỡ mẫu bao nhiêu học sinh và ghi nhận nhận thức thế nào về sự cần thiết của giáo dục đạo đức?
Khảo sát được thực hiện trên mẫu $n = 203$ học sinh tại trường THPT Bùi Thị Xuân. Kết quả ghi nhận 63% học sinh đánh giá việc giáo dục đạo đức là "Rất cần thiết", 31% đánh giá "Cần thiết", 4% đánh giá "Bình thường" và chỉ 2% cho là "Không cần thiết".

2. Đội ngũ giáo viên giảng dạy bộ môn GDCD tại trường THPT Bùi Thị Xuân trong giai đoạn nghiên cứu có đặc điểm gì?
Trong năm học 2016 - 2017, bộ môn GDCD của trường có 3 giáo viên phụ trách (gồm 1 cử nhân và 2 thạc sĩ), đảm nhận giảng dạy cho toàn bộ 1.831 học sinh thuộc 44 lớp học, với định mức giảng dạy 15 tiết/tuần cho mỗi giáo viên.

3. Những hành vi vi phạm chuẩn mực đạo đức nào có tỷ lệ học sinh vi phạm cao nhất theo kết quả khảo sát?
Các hành vi có tỷ lệ vi phạm cao nhất gồm: Nói tục, chửi thề (13,3% thường xuyên, 43,8% thỉnh thoảng); Nói dối ông bà, cha mẹ (8,9% thường xuyên, 56,7% thỉnh thoảng); Gian lận trong kiểm tra, thi cử (7,9% thường xuyên, 56,7% thỉnh thoảng); Nói dối thầy cô (9,4% thường xuyên, 47,3% thỉnh thoảng); và Vượt đèn đỏ (9,4% thường xuyên, 20,7% thỉnh thoảng).

4. Hai yếu tố tiêu cực từ xã hội nào tác động lớn nhất đến đạo đức của học sinh theo số liệu văn bản?
Hai yếu tố tiêu cực có tỷ lệ học sinh lựa chọn cao nhất là tệ nạn xã hội (75,9%) và ảnh hưởng xấu của mạng xã hội (72,9%).

5. Khóa luận đề xuất những nguyên tắc định hướng cơ bản nào cho việc giáo dục đạo đức học sinh?
Tác giả xác lập 3 nguyên tắc định hướng: (1) Giáo dục đạo đức gắn liền với việc tạo lập môi trường kinh tế - xã hội, văn hóa lành mạnh; (2) Giáo dục đạo đức bảo đảm phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và đặc điểm đạo đức của học sinh; (3) Giáo dục đạo đức bảo đảm tính thống nhất giữa truyền thống và hiện đại.


Kết luận

Khóa luận đã hoàn thành việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức và phân tích vai trò của môn GDCD đối với sự phát triển nhân cách của học sinh THPT. Thông qua số liệu khảo sát thực chứng 203 học sinh tại trường THPT Bùi Thị Xuân, công trình đã phản ánh thực trạng nhận thức, phân tích các biểu hiện vi phạm đạo đức và các yếu tố tác động từ gia đình, nhà trường và xã hội. Hệ thống các nguyên tắc và giải pháp do tác giả đề xuất cung cấp định hướng thực tiễn nhằm đổi mới phương pháp giảng dạy môn GDCD và nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học đường trong giai đoạn hiện nay.