Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình phát triển xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, bên cạnh những chuyển biến tích cực, đời sống xã hội cũng đối mặt với nhiều nguy cơ như sự xâm nhập của các lối sống ngoại lai, suy giảm chuẩn mực đạo đức truyền thống và tác động đa chiều từ các phương tiện truyền thông đại chúng. Lứa tuổi học sinh tiểu học có đặc điểm tâm lý mang tính trực quan cụ thể, nhận thức và nhân cách đang trong giai đoạn đầu hình thành nên rất dễ bị ảnh hưởng bởi những thói hư tật xấu nếu thiếu sự định hướng giáo dục đúng đắn.

Thực tế giáo dục tại nhiều trường tiểu học cho thấy tình trạng chú trọng truyền thụ kiến thức các môn văn hóa như Toán, Tiếng Việt, Ngoại ngữ mà xem nhẹ môn Đạo đức. Giờ học Đạo đức thường bị dạy lướt, dạy lý thuyết suông; trong khi đó, hoạt động ngoại khóa – môi trường rèn luyện hành vi đạo đức thực tiễn – chưa được đầu tư đúng mức, còn mang tính hình thức hoặc bị bỏ qua.

Trước thực trạng đó, tác giả Nguyễn Thị Lan Hương thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Tâm lí học tại Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 với đề tài: "Nghiên cứu thực trạng giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học qua hoạt động ngoại khóa tại trường tiểu học Xuân Hòa – Phúc Yên – Vĩnh Phúc" (năm 2014, dưới sự hướng dẫn của Th.S Hoàng Thị Hạnh).

Mục đích nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa tại trường tiểu học, từ đó đề ra các biện pháp giáo dục hành vi đạo đức thông qua hoạt động ngoại khóa đạt hiệu quả.

Nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:

  1. Tìm hiểu một số vấn đề lý luận về phương pháp dạy học môn Đạo đức tại trường tiểu học.
  2. Tìm hiểu thực trạng giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học qua hoạt động ngoại khóa tại trường tiểu học, nguyên nhân dẫn đến thực trạng.
  3. Đề xuất một số giải pháp giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học qua hoạt động ngoại khóa tại trường tiểu học.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Việc giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học qua hoạt động ngoại khóa tại trường tiểu học.
  • Phạm vi nghiên cứu: Toàn thể học sinh từ khối 1 đến khối 5 tại Trường Tiểu học Xuân Hòa, Thị xã Phúc Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc trong năm học 2013 – 2014, với tổng quy mô gồm 1.048 học sinh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các quan điểm tiếp cận đa ngành về đạo đức và giáo dục đạo đức:

  • Khái niệm đạo đức: Được tiếp cận dưới ba góc độ: Triết học (đạo đức là hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực xã hội), Đạo đức học (hệ thống chuẩn mực tự giác điều chỉnh quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội quanh quan niệm thiện - ác), và Tâm lý học (sự phản ánh nguyên tắc, chuẩn mực xã hội vào ý thức cá nhân, điều khiển hành vi trong các mối quan hệ).
  • Hành vi đạo đức và giáo dục hành vi đạo đức: Hành vi đạo đức bao gồm kết quả biểu hiện bên ngoài và động cơ, thái độ bên trong. Giáo dục hành vi đạo đức là quá trình tổ chức cho học sinh lặp lại các thao tác, hành động đạo đức trong học tập và sinh hoạt nhằm hình thành thói quen bền vững.
  • Hoạt động ngoại khóa: Được xác định là các hình thức hoạt động kết hợp dạy học với vui chơi ngoài lớp học (tương đương hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp), nhằm gắn lý thuyết với thực tiễn đời sống xã hội.
  • Ba chức năng cơ bản của đạo đức: Chức năng nhận thức (giúp cá nhân hiểu các quy tắc ứng xử); Chức năng định hướng, điều chỉnh hành vi (giúp cân nhắc lựa chọn hành động đúng đắn); Chức năng đánh giá (sự đánh giá từ xã hội và "tòa án lương tâm" của bản thân).
  • Vai trò của nhà trường tiểu học: Giúp học sinh lĩnh hội chuẩn mực, bồi dưỡng tình cảm và phẩm chất ý chí (thật thà, dũng cảm, kỷ luật, kiên trì), rèn luyện văn hóa ứng xử, ngăn ngừa nguy cơ "phân đôi nhân cách" hoặc tiếp thu đạo đức hình thức.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Tác giả tham chiếu mô hình giáo dục đạo đức PSHE (Personal Social Health & Economic Education) của Singapore (tập trung phát triển kỹ năng sống, sự tự trọng và thấu hiểu xã hội) và chương trình giáo dục đạo đức tích hợp của Nhật Bản (thực hiện qua toàn bộ môn học, hoạt động đặc biệt và câu lạc bộ sau giờ học).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng gồm:

  • Phương pháp đọc sách (nghiên cứu tài liệu lý luận và chương trình).
  • Phương pháp điều tra (khảo sát bằng bảng hỏi).
  • Phương pháp trò chuyện (trao đổi trực tiếp với giáo viên và học sinh).
  • Phương pháp quan sát (theo dõi các tiết học và hoạt động thực tế).
  • Phương pháp thống kê toán học (xử lý số liệu khảo sát).

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu thống kê giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các báo cáo khảo sát của Văn phòng Chủ tịch nước, báo cáo tổng kết năm học 2013 – 2014 của Trường Tiểu học Xuân Hòa, cùng số liệu khảo sát thực nghiệm trực tiếp tại lớp 2A1 của trường.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về bản chất, chức năng của đạo đức và hình thức tổ chức giáo dục đạo đức trong trường tiểu học. Tác giả phân tích cấu trúc chương trình môn Đạo đức hiện hành từ lớp 1 đến lớp 5 theo 5 mối quan hệ cơ bản:

  • Quan hệ với bản thân: Hình thành thói quen gọn gàng, tự giác, trung thực, tự nhận thức điểm mạnh/yếu và chịu trách nhiệm về hành vi.
  • Quan hệ với người khác: Lễ phép với người lớn, nhường nhịn em nhỏ, kính trọng thầy cô, tôn trọng phụ nữ và người lao động, biết cảm thông, chia sẻ.
  • Quan hệ với công việc: Tự giác làm việc nhà, giữ gìn trật tự nội quy, vượt khó trong học tập và lao động.
  • Quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại: Kính yêu Bác Hồ, yêu quê hương đất nước, nghiêm trang khi chào cờ, giữ gìn bản sắc dân tộc, đoàn kết quốc tế và hiểu biết ban đầu về Liên Hợp Quốc.
  • Quan hệ với môi trường tự nhiên: Bảo vệ cây xanh, chăm sóc vật nuôi, bảo vệ nguồn nước sạch và giữ gìn vệ sinh môi trường.

Đồng thời, chương này chỉ ra thực trạng thời lượng môn Đạo đức theo phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ có 1 tiết/tuần (chiếm 4% tổng thời lượng), sách giáo khoa từ năm 2002 còn nặng tính lý thuyết, thiếu hình ảnh minh họa sinh động.

Chương 2: Thực trạng công tác giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học qua hoạt động ngoại khóa tại trường Tiểu học Xuân Hòa – Phúc Yên – Vĩnh Phúc năm 2013- 2014

Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về thực trạng giáo dục đạo đức tại địa bàn nghiên cứu:

  • Đặc điểm nhà trường và địa bàn: Phường Xuân Hòa là khu vực tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng (Trường ĐHSP Hà Nội 2, Trường Trung cấp Xây dựng số 4) và các nhà máy công nghiệp (Nhà máy Quang học Z123, Nhà máy Cơ Yếu 951/195, Nhà máy Xe đạp Xuân Hòa, Nhà máy Pin). Trường Tiểu học Xuân Hòa có 32 cán bộ giáo viên đạt chuẩn chuyên môn, quản lý 1.048 học sinh chia thành 5 khối lớp.
  • Thành tích năm học 2013 – 2014: Tập thể đạt danh hiệu Trường tiên tiến cấp Thị; Liên đội đạt danh hiệu Liên đội mạnh cấp Thị; 1 giáo viên dạy giỏi cấp Tỉnh, 21 giáo viên dạy giỏi cấp trường; học sinh đạt 1 giải nhất cấp Tỉnh và 3 giải cấp Thị cuộc thi Giao lưu học sinh giỏi khối 5; giải thể thao đá cầu đạt 1 giải nhất đơn nam, 1 giải nhì đơn nữ, 1 giải ba đôi nữ.
  • Khó khăn cơ sở vật chất: Địa bàn rộng, phòng Đội chật hẹp, thiếu trang thiết bị chuyên dụng cho hoạt động Đội; các sự kiện tập trung phải phụ thuộc vào phòng họp Hội đồng nhà trường, gây thụ động về thời gian.
  • Kế hoạch hoạt động ngoại khóa theo 8 chủ điểm năm học 2013 – 2014:
    • Tháng 9 (Truyền thống nhà trường): Hát mừng năm học mới, thi tìm hiểu truyền thống trường lớp.
    • Tháng 10 (Chăm ngoan học giỏi): Tọa đàm thư Bác Hồ, giao ước thi đua, triển khai chương trình "Thắp sáng ước mơ thiếu nhi Việt Nam".
    • Tháng 11 (Tôn sư trọng đạo - Kính yêu thầy cô giáo): Kỷ niệm ngày 20/11, sinh hoạt văn nghệ truyền thống ngành.
    • Tháng 12 (Uống nước nhớ nguồn): Kết nạp Đội viên, thi tìm hiểu anh hùng dân tộc, thăm hỏi cán bộ Nhà máy 591, Nhà máy Z123, Trung đoàn 24.
    • Tháng 1 & 2 (Mừng Đảng mừng xuân): Thi tìm hiểu văn hóa địa phương, giữ gìn trường lớp xanh sạch đẹp, ký cam kết không vi phạm chất cháy nổ/tệ nạn, tặng quà học sinh nghèo.
    • Tháng 3 (Tiến bước lên Đoàn): Thi tìm hiểu về Đoàn, văn nghệ 8/3 và 26/3, Hội khỏe Phù Đổng cấp Thị, sinh hoạt Câu lạc bộ Toán tuổi thơ.
    • Tháng 4 (Vòng tay bạn bè - Hòa bình và hữu nghị): Thi tìm hiểu di sản văn hóa, văn nghệ 30/4 và 1/5.
    • Tháng 5 (Đội ta lớn lên cùng Đất nước và Bác Hồ kính yêu): Thi tìm hiểu ngày thành lập Đội (15/5), thân thế Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5), thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy.
  • Hoạt động thực tế và giảng dạy chuyên môn:
    • Giáo viên chủ nhiệm thực hiện sổ sách, sinh hoạt lớp nhưng một số còn thiếu nhiệt tình, ít liên hệ với phụ huynh do áp lực dạy văn hóa.
    • Các hoạt động xã hội: Thăm hỏi gia đình thương binh liệt sĩ, viết thư gửi bộ đội ngày 22/12, cổ động an toàn giao thông và phòng chống sốt xuất huyết.
    • Tình hình dạy môn Đạo đức tại trường: Bị xem là môn phụ, giáo viên cắt giảm lịch dạy xuống còn 3 tuần/1 tiết (thay vì 1 tiết/tuần), giờ dạy biến thành giờ đọc - chép vở bài tập, thiếu đồ dùng trực quan.
  • Thực nghiệm sư phạm tại lớp 2A1:
    • Tiết dạy trên lớp bài "Lịch sự khi đến nhà người khác": Tác giả dạy đúng quy trình lý thuyết nhưng tự đánh giá chỉ đạt 4/10 điểm do giáo viên nói nhiều, học sinh thụ động, thiếu tương tác.
    • Tiết hoạt động ngoại khóa bài "Giữ gìn trường lớp sạch đẹp": Tổ chức tại phòng chức năng, chia 7 tổ (6 học sinh/tổ), trải qua 3 phần thi (Phần 1: Ai nhanh hơn - trả lời câu hỏi nhận thức môi trường; Phần 2: Ai nói giỏi hơn - bốc thăm thuyết trình chủ đề; Phần 3: Thi năng khiếu - vẽ tranh tuyên truyền và hát về trường lớp). Tác giả tự đánh giá đạt 8/10 điểm nhờ không khí sôi nổi, học sinh hứng thú rèn luyện kỹ năng.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đưa ra các dữ liệu khảo sát định lượng cụ thể tại lớp 2A1 về mức độ tham gia và thái độ của 43 học sinh đối với 11 nội dung hoạt động đạo đức:

STT Tên hoạt động Thực hiện: Có Thực hiện: Không Thái độ: Yêu thích Thái độ: Bình thường Thái độ: Không thích
1 Đọc các tình huống, mẩu chuyện trong vở bài tập Đạo đức 12 31 6 7 30
2 Làm bài tập trong vở bài tập 43 0 12 13 18
3 Xem tranh trong sách giáo khoa 17 26 18 12 13
4 Tham gia đóng vai trong các tình huống 18 25 19 21 3
5 Tham gia các buổi văn nghệ 32 11 32 10 1
6 Các buổi gặp gỡ nói chuyện 43 0 23 14 6
7 Tham quan, du lịch 41 2 39 4 0
8 Sưu tầm tranh ảnh 43 0 29 10 4
9 Tham gia các câu lạc bộ 37 6 30 13 0
10 Các cuộc thi tìm hiểu về vấn đề Đạo đức 41 2 37 5 1
11 Gặp gỡ, giao lưu với các tấm gương 43 0 36 4 3

Kết quả khảo sát phản ánh sự tương phản rõ rệt: Các hoạt động ngoại khóa, thực tế mang tính trải nghiệm (tham quan du lịch: 39/43 học sinh yêu thích; thi tìm hiểu: 37/43 học sinh yêu thích; giao lưu với tấm gương: 36/43 học sinh yêu thích; văn nghệ: 32/43 học sinh yêu thích) thu hút sự quan tâm cao hơn rất nhiều so với phương pháp đọc tình huống trong vở bài tập (chỉ 6/43 học sinh thích, 30/43 học sinh không thích).

Các giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:

  • Nâng cao nhận thức của giáo viên và phụ huynh, xóa bỏ tư tưởng xem môn Đạo đức là "môn phụ".
  • Thực hiện nghiêm túc quy trình dạy học môn Đạo đức, không cắt xén thời lượng, hạn chế lối dạy đọc - chép thụ động.
  • Tăng cường đổi mới hình thức tổ chức dạy học thông qua hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ, trò chơi, đóng vai và các phong trào gắn liền với đời sống địa phương.
  • Cải thiện cơ sở vật chất phòng Đội và trang thiết bị trực quan phục vụ giáo dục kỹ năng sống.

Đóng góp của khóa luận: Cung cấp bức tranh thực tế về sự lệch pha giữa quy định chuyên môn và việc triển khai dạy học môn Đạo đức tại cơ sở; minh chứng bằng số liệu thực nghiệm về tính ưu việt của hoạt động ngoại khóa đối với việc hình thành hành vi đạo đức ở học sinh tiểu học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có các hạn chế gắn liền với điều kiện nghiên cứu thực tế được nêu trong văn bản:

  • Khảo sát thực nghiệm chỉ tiến hành trong thời gian thực tập sư phạm (hơn 2 tháng) trên quy mô 1 lớp học (lớp 2A1) nên chưa bao quát toàn diện các khối lớp khác trong trường.
  • Cơ sở vật chất của nhà trường (phòng Đội chật hẹp, thiếu thốn thiết bị) làm hạn chế việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa quy mô lớn.
  • Chưa xây dựng được cơ chế đánh giá, khen thưởng định kỳ đồng bộ giữa nhà trường với các tổ chức đoàn thể địa phương.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm sang các khối lớp 1, 3, 4, 5 để so sánh sự khác biệt về tâm lý lứa tuổi.
  • Xây dựng mô hình phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và các đơn vị quân đội/nhà máy trên địa bàn (Nhà máy Z123, Cơ Yếu 951) trong công tác giáo dục kỹ năng và truyền thống cho học sinh.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học và Tâm lý học giáo dục: Tham khảo phương pháp thiết kế nghiên cứu thực trạng và xây dựng kế hoạch bài dạy thực nghiệm (tiết dạy trên lớp kết hợp tiết hoạt động ngoại khóa).
  • Giáo viên tiểu học và Tổng phụ trách Đội: Sử dụng hệ thống 8 chủ điểm hoạt động ngoại khóa theo tháng cùng các kịch bản trò chơi, câu hỏi tìm hiểu môi trường đã được xây dựng chi tiết trong khóa luận.
  • Cán bộ quản lý giáo dục cấp trường: Tham khảo các phân tích nguyên nhân về việc dạy lệch môn và giải pháp tăng cường cơ sở vật chất, quản lý nề nếp chuyên môn môn Đạo đức.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả khóa luận là ai, thực hiện tại cơ sở đào tạo nào và chuyên ngành gì?
Tác giả là sinh viên Nguyễn Thị Lan Hương, thực hiện khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Tâm lí học tại Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 vào năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của Th.S Hoàng Thị Hạnh.

2. Thực trạng giảng dạy môn Đạo đức tại Trường Tiểu học Xuân Hòa trong thời gian nghiên cứu có điểm gì bất cập?
Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định thời lượng môn Đạo đức là 1 tiết/tuần, nhưng tại trường giáo viên chỉ dạy 3 tuần/1 tiết. Trong tiết học, giáo viên chủ yếu đọc cho học sinh chép vào vở bài tập, thiếu đồ dùng trực quan và không thực hiện đúng quy trình giảng dạy.

3. Hoạt động ngoại khóa năm học 2013 – 2014 của trường được phân chia theo những chủ điểm tháng nào?
Kế hoạch gồm 8 chủ điểm từ tháng 9 đến tháng 5: Tháng 9 (Truyền thống nhà trường), Tháng 10 (Chăm ngoan học giỏi), Tháng 11 (Tôn sư trọng đạo - Kính yêu thầy cô giáo), Tháng 12 (Uống nước nhớ nguồn), Tháng 1 & 2 (Mừng Đảng mừng xuân), Tháng 3 (Tiến bước lên Đoàn), Tháng 4 (Vòng tay bạn bè - Hòa bình và hữu nghị), Tháng 5 (Đội ta lớn lên cùng Đất nước và Bác Hồ kính yêu).

4. Kết quả tự đánh giá của tác giả giữa tiết dạy trên lớp và tiết ngoại khóa tại lớp 2A1 có sự khác biệt như thế nào?
Tiết dạy lý thuyết trên lớp (bài "Lịch sự khi đến nhà người khác") chỉ được tác giả tự chấm 4/10 điểm do học sinh thụ động, giáo viên giảng nhiều; trong khi tiết ngoại khóa (bài "Giữ gìn trường lớp sạch đẹp") đạt 8/10 điểm nhờ học sinh hào hứng tham gia các phần thi trả lời câu hỏi, thuyết trình và vẽ tranh.

5. Địa bàn phường Xuân Hòa có đặc thù gì ảnh hưởng đến công tác giáo dục của nhà trường?
Phường Xuân Hòa có kinh tế dịch vụ phát triển, tập trung đông sinh viên từ các trường đại học/cao đẳng (như Trường ĐHSP Hà Nội 2) và nhiều cơ sở sản xuất, nhà máy quốc phòng (Z123, Cơ Yếu 951). Môi trường xã hội đa dạng tạo ra nhiều tác động phức tạp đến nhận thức của học sinh tiểu học, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và địa phương.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Lan Hương đã làm rõ cơ sở lý luận và phản ánh chân thực thực trạng giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh tại Trường Tiểu học Xuân Hòa năm học 2013 – 2014. Công trình chỉ ra những tồn tại trong việc xem nhẹ môn Đạo đức, đồng thời chứng minh hiệu quả tích cực của hình thức hoạt động ngoại khóa thông qua số liệu khảo sát và thực nghiệm tại lớp 2A1. Đây là tài liệu tham khảo bổ ích cho sinh viên và giáo viên tiểu học trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy và tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp.