Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP BỐN TRONG DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về phát triển năng lực cho học sinh Tác giả Nguyễn Thu Hà (2014) trong bài báo “Giảng dạy theo năng lực và đánh giá theo năng lực trong giáo dục Một số vấn đề lí luận cơ bản” đã phân tích các khái niệm của giáo dục năng lực cũng như đưa ra các phương pháp giảng dạy và cách đánh giá theo năng lực để phát triển năng lực của người học. Tác giả cho rằng yếu tố quan trọng của giáo dục năng lực là xây dựng được các tiêu chuẩn đầu ra rõ ràng thể hiện được mục tiêu của giáo dục, thiết lập được các điều kiện và tạo cơ hội để người học đạt được các mục tiêu ấy.
Các chương trình giảng dạy được chia thành các module trong đó tập trung phát triển từng năng lực cụ thể của người học theo mục tiêu đề ra. Trong tài liệu hội thảo tập huấn “Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới” thuộc dự án phát triển giáo dục THPT của Hà Nội, tác giả Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường (2005) đã trình bày chi tiết những nội dung về phát triển năng lực. Tài liệu tập trung chỉ ra những phương pháp, phương tiện và kĩ thuật dạy học mới nhằm phát triển năng lực của người học trong xã hội tri thức. Trong “Phát triển chương trình đại học theo cách tiếp cận năng lực – Xu thế và nhu cầu”, tác giả Hoàng Thị Tuyết (2013) cho rằng phát triển chương trình đào tạo theo chuẩn năng lực là một xu thế tất yếu trong mọi cấp học.
Bài viết chỉ ra những mô hình phát triển chương trình đại học theo cách 7 tiếp cận năng lực. Để thực hiện được những mô hình này cần hội tụ ba yếu tố như “ba chân của một chiếc ghế đẩu” gồm: - Bộ chuẩn năng lực cốt lõi mà sinh viên cần lĩnh hội để họ sử dụng một cách hiệu quả kiến thức mà họ đã đạt được trong mỗi môn học. - Hệ thống kiểm tra đánh giá. - Hệ thống tự chịu trách nhiệm gồm quyền tự chủ trong xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo; tinh thần trách nhiệm của nhà trường và những nhà giáo dục đối với sự phát triển năng lực của người học.
Tác giả Nguyễn Thị Thu (2015) trong bài viết “Hoạt động lĩnh hội tri thức môn Đạo đức của học sinh Tiểu học dưới góc nhìn phát triển năng lực” đề cập đến hoạt động lĩnh hội tri thức môn Đạo đức của HSTH dưới góc nhìn phát triển năng lực. Tác giả đã nêu ra định nghĩa và đặc điểm của chuẩn mực hành vi từ đó đưa ra những yêu cầu cơ bản trong quá trình lĩnh hội chuẩn mực hành vi qua môn Đạo đức theo hướng phát triển năng lực học sinh. “Bàn về năng lực chung và chuẩn đầu ra về năng lực” của tác giả Mai Văn Hưng (2013), bài viết trình bày các nội dung về: khái niệm năng lực, những năng lực chung, những năng lực riêng đồng thời đưa ra cách đánh giá một số năng lực. Tóm lại: Các tài liệu vừa nêu đã nêu được cơ sở lý luận về năng lực: gồm khái niệm, phân loại, chuẩn đầu ra năng lực, cách đánh giá và các biện pháp phát triển năng lực người học nói chung.
Tuy nhiên, vẫn còn ít tài liệu đề cập đến việc phát triển một năng lực cụ thể của người học. Các nghiên cứu về phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh Trên thế giới Ngay từ thời cổ đại, vấn đề giao tiếp đã được các nhà giáo dục quan tâm. Khổng Tử - một nhà tư tưởng, nhà giáo dục, nhà chính trị nổi tiếng người Trung Hoa từng nói “Đọc thuộc ba trăm thước kinh thư giỏi, giao cho việc đi 8 sứ không có khả năng đối đáp, học kiểu như vậy chẳng có ích gì” (Đào Thanh Âm, 2004). Tư tưởng đó của Khổng Tử cho thấy vai trò quan trọng của việc trau dồi cách giao tiếp bên cạnh việc học chữ, học kiến thức của người học.A Comenxi cho rằng “Học tập không phải là lĩnh hội kiến thức trong sách vở mà còn lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ”.
Ông là người chủ trương tạo môi trường giao tiếp rộng mở cho người học bởi lẽ giao tiếp của học sinh không chỉ thực hiện trong nhà trường mà còn thông qua các hoạt động thực hành bên ngoài cuộc sống. Tác giả Kak-Hai-Nơdích (1990) nêu rõ tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ. Trong mỗi giai đoạn ngôn ngữ, nhiệm vụ của người lớn là giúp trẻ thâm nhập vào thế giới ngôn ngữ phong phú, dẫn dắt trẻ từ những âm thanh “gừ gừ” ở tuổi sơ sinh đến nắm vững và sử dụng ngôn ngữ thành thạo. Tác giả đã giúp người đọc tiếp cận những cách làm thiết thực, hiệu quả trong việc giáo dục và phát triển kĩ năng giao tiếp của trẻ.
Cuốn “Giảng dạy ngôn ngữ nói” (Building afirm foundation using CPALER in the early pimary year), tác giả John Munro (2011) đã đưa ra những căn cứ thuyết phục xác định tầm quan trọng của kỹ năng nghe – nói trong việc dạy kỹ năng đọc – viết và quá trình tiếp nhận kiến thức. Tác giả còn nêu lí do tại sao ngôn ngữ giao tiếp lại được đặt vị trí trọng tâm trong những năm đầu cấp Tiểu học thông qua mô hình có tên gọi là ICPALER. Ca-pi-nox đã nhấn mạnh những quan điểm của lí thuyết hoạt động trong lĩnh vực tâm lí học, quan điểm này đã có những tác động cơ bản tới sự hình thành và phát triển ngôn ngữ của trẻ. Ông cho rằng: “Động cơ nói năng không phải là hoạt động của lời nói mà là hoạt động thuộc bậc cao hơn – hoạt động giao tiếp.
Tác giả kết 9 luận: “Các hoạt động phát triển ngôn ngữ cần được đặt trong hoạt động giao tiếp”. Ở Việt Nam Trong bài viết “Vai trò của kiến thức đầu vào trong phát triển năng lực giao tiếp ngoại ngữ”, Đỗ Bá Quý (2009) đã điểm lại một số quan điểm phổ biến về năng lực giao tiếp và đưa ra một số biện pháp để phát triển năng lực ngoại ngữ cho sinh viên trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc người học cần được cung cấp đầy đủ kiến thức đầu vào gồm kiến thức chung, kiến thức ngôn ngữ, kiến thức nghiệp vụ để làm nền tảng cho việc tạo dựng và phát triển năng lực giao tiếp của họ. Tác giả Nguyễn Quang Ninh (1998) đã bàn đến việc rèn kỹ năng nói và viết theo hướng giao tiếp trong công trình “Một số vấn đề dạy học ngôn bản nói và viết ở tiểu học theo hướng giao tiếp”. Tác giả tập trung nghiên cứu vấn đề hội thoại theo hướng giao tiếp, đồng thời cho rằng: hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng miệng giữa các nhân vật tham dự giao tiếp nhằm trao đổi những thông tin hoặc trao đổi tư tưởng, tình cảm … theo mục đích đã đặt ra.
Trong “Kinh nghiệm dạy học ngôn bản theo hướng giao tiếp ở một số nước” của tác giả Nguyễn Trí (2000), người viết đã bàn về cơ cấu hệ thống chương trình dạy ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói cho HSTH. Theo tác giả, phương hướng dạy học giao tiếp và để giao tiếp đã làm thay đổi nội dung chương trình dạy tiếng mẹ đẻ của một số nước trên thế giới. Tác giả Đỗ Việt Hùng (1986) trong bài viết “Phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS trong việc dạy Tiếng Việt” khẳng định việc phát triển năng lực cho HS là vô cùng quan trọng, trong đó có năng lực sử dụng ngôn ngữ và năng lực giao tiếp tuy nhiên người viết lại chưa hình thành khái niệm về năng lực, năng lực giao tiếp. 10 Cùng chủ đề nghiên cứu về năng lực giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt, trong bài viết “Từ khái niệm “năng lực giao tiếp” đến vấn đề dạy và học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông hiện nay”, tác giả Vũ Thị Thanh Hương (2006) đã phân tích đặc điểm và các thành tố của năng lực giao tiếp.
Tác giả nhấn mạnh quan điểm giao tiếp cần phải được vận dụng trong việc dạy và học Tiếng Việt trong nhà trường phổ thông hiện nay. Bàn về giao tiếp lứa tuổi tiểu học, tác giả Lưu Thu Thủy (1995) đã nghiên cứu các nét tính cách bộc lộ qua giao tiếp và các kỹ năng giao tiếp của học sinh từ đó thiết kế quy trình giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho học sinh lớp 4 và lớp 5 trong phạm vi trường học. Tuy nhiên, những hành vi giao tiếp bên ngoài trường học của học sinh chưa được quan tâm nghiên cứu. Ngoài ra, còn một số luận văn khác cũng đề cập đến vấn đề này từ các phương diện khác nhau, ví dụ như: luận văn thạc sĩ “Xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2” của Đoàn Văn Hiếu (2017), luận văn thạc sĩ “Bài tập phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong giờ kể chuyện” của Dương Thị Ngọc Giàu (2017), luận văn thạc sĩ “Phát triển năng lực giao tiếp của học sinh thông qua việc dạy các bài văn nghị luận xã hội ở lớp 9” của Bùi Thị Thủy (2015).
Những tài liệu trên cơ bản đã hình thành những lí thuyết chung nhất về năng lực, năng lực giao tiếp. Tuy nhiên, các tài liệu này tập trung nghiên cứu sự hình thành và phát triển ngôn ngữ và năng lực giao tiếp của trẻ gắn với quá trình phát triển ngôn ngữ trong môn học tiếng mẹ đẻ nói chung và môn tiếng Việt nói riêng mà vẫn chưa thể hiện rõ tầm quan trọng của quá trình ấy trong các môn học khác. Cụ thể là vẫn chưa có tài liệu nào nghiên cứu về biện pháp phát triển năng lực giao tiếp trong dạy học môn Đạo đức ở lớp Bốn. Năng lực và năng lực giao tiếp 1.1 Năng lực Khái niệm về năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng Latinh là “competentia”.
Ngày nay, khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.