Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan của vấn đề nghiên cứu Đạo đức là một hình thái ý thức XH, được hình thành, phát triển cùng với lịch sử XH loài người và luôn được mọi tầng lớp, mọi giai cấp, mọi thời đại quan tâm. Với tư cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, những tư tuởng ĐĐ đã xuất hiện khá sớm trong lĩnh vực triết học Trung Hoa, ấn Độ, Hy Lạp cổ đại. Đạo đức biểu hiện đặc trưng về nhân cách, văn hoá; là những yêu cầu, những nguyên tắc, chuẩn mực do cuộc sống đặt ra mà mỗi con người phải tuân theo.
Đạo đức phản ánh các mối quan hệ, ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với xã hội và con người với thế giới tự nhiên. Đạo đức không chỉ gắn liền với những con người cụ thể, mà nó còn gắn chặt với mỗi dân tộc, mỗi giai cấp tạo nên nền tảng đạo đức của mỗi xã hội nhất định trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Từ ngàn xưa, vấn đề giáo dục đạo đức được coi là mặt cơ bản trong hai mặt: “Đức và Tài”. Mặc dù lịch sử xã hội ngày càng phát triển, nội dung giáo dục nhà trường ngày càng phong phú, song giáo dục đạo đức bất luận ở quốc gia nào, dưới chế độ nào cũng đều được quan tâm.
Nhà trưòng Việt Nam trải qua hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến và phong kiến thực dân cho đến nay giáo dục đạo đức cho học sinh vẫn giữ nguyên vị trí vô cùng quan trọng của nó. Ở Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản ra đời, Đảng, Bác Hồ thường xuyên quan tâm đến vấn đề đạo đức, đó là đạo đức cách mạng, đạo đức 7 z XHCN, Bác đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng thế hệ trẻ, nhằm giúp cho họ có được những phẩm chất và năng lực để kế tục sự nghiệp cách mạng. Tuy nhiên, nhìn thẳng vào sự thật chúng ta thấy rằng trong quá trình hội nhập quốc tế, trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường, đạo đức, nhân cách của con người có nhiều biểu hiện thiếu lành mạnh, trong sáng, phần nào làm ảnh hưởng đến đạo đức xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta và Bác Hồ đã dày công vun đắp. Những biểu hiện tiêu cực thiếu văn hoá, mất đạo đức của một bộ phận trong cộng đồng dân cư, trong xã hội đã làm ảnh hưởng đến nhà trường đặc biệt là trường THPT.
Đứng trước thực tế này, GDĐĐ cho học sinh là vấn đề rất bức xúc, đã được Đảng, nhà nước quan tâm và được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu. Chúng ta có thể tìm hiểu qua các tác giả như: Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Hà Nhật Thăng, Phạm Khắc Chương,. Tóm lại, trước đòi hỏi của việc xây dựng con người Việt Nam thời kỳ CNH - HĐH đất nước, Nhà nước đã có 2 chương trình nghiên cứu trong vòng 10 năm, ở chu kỳ 1 (1990 – 1995) là Đánh giá thực trạng CNVN thời kỳ bước vào thực hiện đổi mới (mã số KX – 07). Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của chương trình ở chu kỳ 1, chu kỳ 2 (1996-2000) với nội dung là Xác định nhân cách con người Việt Nam thời kỳ CNH - HĐH.
Đây là chương trình KH - CN cấp Nhà nước do GS. VS Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm. Kết quả nghiên cứu của chương trình được trình bày trong tác phẩm “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH - HĐH”, NXB Chính trị Quốc gia 2001. Trong tác phẩm này có chương 7 trình bày mô hình về đạo đức con người Việt Nam thời kỳ CNH - HĐH (từ trang 153 - 179).
Đó là một chương trình nghiên cứu khoa học quan trọng có ý nghĩa định hướng cho việc xác định mục tiêu, nội dung GDĐĐ các cấp học, ngành học của người lao động thời kỳ CNH - HĐH nhằm phát triển nguồn lực người - yếu tố quyết định sự phát triển KT - XH của nền kinh tế tri thức những thập niên đầu thế kỷ 21. 8 z Tiếp tục cụ thể hoá chương trình nghiên cứu trên biến nó thành hiện thực có hiệu quả phải kể đến việc thiết kế mục tiêu GDĐĐ ở tiểu học, môn GDCD ở THCS và THPT và chương trình hoạt động GD NGLL ở phổ thông và đã thể hiện trong nội dung của SGK và SGV ở các cấp học phổ thông do PGS.TS Hà Nhật Thăng làm trưởng tiểu ban, xây dựng chương trình và chủ tịch hội đồng bộ môn là của Bộ Giáo dục - Đào tạo phụ trách. Rõ ràng về mặt lý luận cũng như thực tiễn, vấn đề đạo đức và GDĐĐ trong nhà trường đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục quan tâm, nghiên cứu về con người trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, mở cửa, đổi mới ở nước ta, dựa vào đó các nhà QLGD có thể đưa ra những biện pháp hữu hiệu hơn. Một số khái niệm công cụ 1.
Khái niệm về quản lý Quản lý là một khái niệm rộng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, vì vậy khái niệm về quản lý khi được đưa ra luôn gắn với các loại hình quản lý cụ thể. Sau đây là một số quan niệm : + Theo tác giả Trần Đình Nghiêm: “Quản lý là một quá trình dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển hệ thống đó sang một hệ thống mới”. [27] + Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu. Quản lý là hệ thống là một quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”. [19] + Theo Nguyễn Văn Lê : “Quản lý là một hệ thống tác động khoa học, nghệ thuật vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm 9 z đạt được các mục tiêu đề ra của hệ thống và cho từng thành tố của hệ thống”. [20] + Theo đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý thì : “Quản lý là tổ chức điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan”. [40] Quản lý là một quá trình tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục đích, đúng với ý chí của nhà quản lý và phù hợp với quy luật khách quan bằng các phương pháp thích hợp.
Xem xét nội hàm của những khái niệm quản lý nêu trên, ta thấy quản lý là một dạng hoạt động xã hội và tồn tại với tư cách là một hệ thống bao gồm chủ thể, khách thể và phương tiện quản lý. Mục đích và phương tiện là cặp phạm trù trong mối quan hệ biện chứng của mọi hoạt động, vì thế để thực hiện được từng mục tiêu cụ thể nhằm đạt được mục đích quản lý cần phải có phương tiện quản lý thích hợp. Bản chất của QL là họat động lao động để điều khiền lao động, một hoạt động tất yếu và vô cùng quan trọng của XH loài người. Nó bắt nguồn từ lao động và tồn tại với tư cách là một loại lao động điều khiển mọi hoạt động XH về kinh tế, chính trị, văn hoá, GD,… Các loại hình lao động ngày càng phong phú, phức tạp thì hoạt động QL ngày càng có vai trò quan trọng có những chức năng đặc biệt và phải luôn được thay đổi phù hợp, thích ứng với lao động xã hội.
Do vậy người ta thường nói: “QL là nghiệp xưa nhất nhưng cũng là nghề mới nhất”. Quản lý có phạm vi tác động lên khách thể rất rộng, do đó ngày nay nó được xem là nhân tố quan trọng nhất trong các nhân tố quyết định sự thành công của sự phát triển KT- XH (vốn, nguồn lực lao động, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và quản lý). 10 z Như vậy: Có nhiều khái niệm quản lý tuy khác nhau song các định nghĩa đều đề cập tới bản chất của hoạt động quản lý. Bởi lẽ, bất kỳ lao động nào của xã hội hay cộng đồng ở một quy mô tương đối lớn đều cần một chừng mực nhất định của hoạt động quản lý.
Đó là cách thức tổ chức điều khiển, tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu mà tổ chức đã đặt ra. Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích đến tập thể người nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Trong giáo dục, đó là tác động của nhà quản lý giáo dục đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác nhau trong xã hội nhằm thực hiện có hệ thống các mục tiêu quản lý giáo dục. Các chức năng quản lý là biểu hiện bản chất của quản lý, chức năng quản lý là môt phạm trù chiếm vị trí then chốt trong các phạm trù cơ bản của khoa học quản lý, là những loại hoạt động bộ phận tạo thành hoạt động quản lý đã được tách riêng, chuyên môn hoá.
“ Các chức năng quản lý là những hình thái biểu hiện sự tác động đến mục đích tập thể người " [36, tr. Có 4 chức năng cơ bản liên quan mật thiết với nhau và tạo thành chu trình quản lý: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Khái niệm về tổ chức Tổ chức được hiểu theo hai nghĩa khác nhau: - Tổ chức là một hệ thống: “ Tổ chức là một cơ cấu liên kết những cá nhân trong một hệ thống nhằm thực hiện mục tiêu của hệ thống dựa trên những nguyên tắc và quy tắc nhất định” [36- Tr. - Tổ chức là một hoạt động quản lý: Trong 4 chức năng quản lý tổ chức là chức năng quan trọng nhất.I Lê nin đã nói: “ Hãy cho tôi một tổ chức tôi sẽ làm đảo lộn cả thế giới ”, Người còn nói: “ Để quản lý thành công, ngoài việc biết thuyết phục.cần phải biết tổ chức thực hiện”.
11 z Tổ chức là một quá trình sắp xếp, tác động và điều khiển các nhiệm vụ và nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã vạch ra. Trong luận văn này, tổ chức được được dùng với tư cách là một hoạt động quản lý. Khái niệm về đạo đức Đạo đức là một trong những bộ phận cơ bản nhất tạo ra bộ mặt nhân cách của mỗi cá nhân, cộng đồng và dân tộc.