CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THUC TIEN QUAN LÝ GIÁ TÍNH THUÊ TRONG VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 1. Cơ sở lý luận về quản lý giá tính thuế trong điều kiện hội nhập 1. Một số khái niệm 1. Quan ly a - Khái niệm: La sự tac động lên một hệ thống nao đó với mục tiêu đưa hệ thống đó đến trạng thái cần đạt được.
Quản lý là một phạm trù xuất hiện trước khi có Nhà nước với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy mô lớn. Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại lao động chung nào đó mà được tiến hành trên quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung. Quản lý là sản phẩm của sự phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp hoạt động chung của con người. Như vậy, quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thé quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan.
Các yếu tô cầu thành Quản lý gồm 04 yếu tố cấu thành: - Chủ thê quản lý, trả lời câu hỏi: do ai quản lý? - Khách thé quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý cái gì? - Mục đích quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý vì cái gì? - Môi trường tô chức, trả lời câu hỏi: quản lý trong hoàn cảnh nao? 17 1. Quản ly Nhà nước a- Khai nién - Là một phạm tra gắn liền với sự xuất hiện của Nha nước, quản ly Nha nước ra đời với tính chất là loại hoạt động quản lý xã hội. Quản lý Nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng, được thực hiện bởi tất cả các cơ quan Nhà nước. Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành được đặc trưng bởi các yếu tô có tính tô chức; được thực hiện trên cơ sở và dé thi hành pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính Nha nước ( hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hop được giao nhiệm vụ quan lý Nhà nước).
Quản lý Nha nước cũng là sản phẩm cuagr việc phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý. Có thé định nghĩa: Quản lý Nhà nước là sự chỉ huy, điều hành đề thực thi quyền lực Nhà nước, do tất cả các cơ quan Nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tiến hành dé tổ chức và điều chỉnh các quá trình xã hội, và hành vi hoạt động của công dân. Sự can thiết của Quản lý Nhà nước + Do tính chất giai cấp trong kinh tế bản chất giai cấp của Nhà nước. Nhà nước hình thành từ khi xã hội có giai cấp.
Nhà nước bao giờ cũng đại diện lợi ích của giai cấp thống trị nhất định, trong đó có lợi ích kinh tế. Trong nền kinh tế nhiều thành phần không phải lúc nào lợi ích kinh tế của các bên cũng luôn nhất trí, vì vậy xuất hiện xu hướng vừa hợp tác vừa đấu tranh trong các hoạt động kinh tế. Trong cuộc dau tranh trên mặt trận kinh tế, Nhà nước phải thê hiện bản chất giai cấp của mình dé bảo vệ lợi ich của giai cap thống trị. + Lĩnh vực kinh tế thường chứa nhiều mâu thuẫn và chỉ có Nhà nước mới đủ thâm quyền và khả năng xử lý một cách tối ưu.
Các mâu thuẫn đó là mâu thuẫn giữa chủ và thợ, mâu thuẫn giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp và cộng đồng xã hội. Nội dung các loại mâu thuẫn đó cũng 18 rất đa dạng. Những mâu thuẫn này có tính phô biến, thương xuyên và có tính căn ban vì liên quan đến quyền lợi và sự ôn định kinh tế - xã hội. Chi có Nha nước mới có thé giải quyết được các mâu thuẫn đó và điều hòa được lợi ích của các bên.
+ Trong nền kinh tế có một phần là kinh tế của Nhà nước. Nhà nước nào cũng đều sở hữu một bộ khá lớn các gia tri vật chat trong nên kinh tế, đó là tài nguyên kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, vốn nhà nước trong các doanh nghiệp. Đồng thời hệ thống doanh nghiệp nhà nước được lập ra dé kinh doanh trong những ngành, những vùng, những việc ma khu vực tư không được làm, không làm được, không muốn làm, khiến cho nhu cầu xã hội không được đáp ứng. Kinh tế Nhà nước là phương tiện về tài chính, làm cho Nhà nước có sức mạnh để điều chỉnh các quan hệ trong kinh tế, vì vậy Nhà nước đương nhiên phải thực hiện quản lý phần kinh tế Nhà nước.
Quản lý Nhà nước về hải quan a. Khái niệm Quản lý Nhà nước làm một dạng quản lý đặc biệt, được sử dụng các quyền lực Nhà nước như lập pháp, hành pháp và tư pháp dé quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Quản lý Nhà nước về hải quan sử dụng các chính sách, pháp luật nhăm điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh đảm bảo cho việc phát triển quan hệ kinh tế, văn hóa trong nước với nước ngoài, góp phần tăng cường sự giao lưu và hợp tác quốc tế, bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia. Quản lý Nhà nước về hải quan là hoạt động quản lý Nhà nước đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh của tô chức, cá nhân trong nước va nước ngoài trong lãnh thổ hải quan.
Lãnh thổ hải quan gồm những khu vực trong lãnh thổ quốc gia, trong vùng 19 đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, nơi Luật hải quan được áp dụng. Quản lý Nhà nước về hải quan là một mặt của công tác quản lý Nhà nước về kinh tế. Nó có vị trí quan trọng trong thực thi chính sách kinh tế của Nhà nước và đóng vai trò hết sức cần thiết để góp phần đảm bảo thực hiện chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ; hợp tác và giao lưu quốc tế; bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Sự can thiết của quản lý Nhà nước về hải quan Thương mại quốc tế là một xu hướng mang tính tất yếu khách quan do tác động của sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế.
Tuy nhiên, trong điều kiện còn ton tại các quốc gia có chủ quyền chính trị và chủ quyền kinh tế độc lập thì thương mại quôc tế còn chịu ảnh hưởng rất lớn của chính sách quốc gia, trong đó kiểm soát Nhà nước đối với hàng hóa, hành khách, phương tiện qua lại biên giới là Hải quan. Hoạt động xuất nhập khẩu, bên cạnh những đóng góp tích cực vào tăng trưởng và phát triển kinh tế thì vẫn còn nhiều tồn tại đòi hỏi Nhà nước phải hiểu rõ để chủ động ngăn ngừa, hạn chế. Chính vì sự ảnh hưởng lớn của hoạt động xuất nhập khẩu mà ở nước ta hay bat kỳ quốc gia nao, hải quan có vị trí vô cùng quan trọng, đặc biệt là chống buôn lậu và ngăn chặn việc vận chuyên, buôn bán trái phép hàng hóa, tiền tệ, tài sản, hàng cắm qua biên giới. Thương mại quốc tế cũng như bất kỳ một hoạt động nào khác của con người đều có sự tổ chức và quản lý nhăm đảm bảo cho hệ thống hoạt động chính xác, đúng yêu cầu, mục tiêu nhiệm vụ đề ra.
Xét trên phương diện lợi ích quốc gia và quốc tế, sự kiêm soát này là cần thiết dé phòng, chống các hành vi lợi dụng thương mại quốc tế phục vụ các mục tiêu không có lợi cho quốc gia nói riêng, loài người nói chung. 20 Hai quan giữ trọng trách là “ Người gác cửa nền kinh tế”, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình về công tác thủ tục hải quan, thu thuế xuất nhập khâu, chống buôn lậu và gian lận thương mại, “ người lính biên phòng của nền kinh tế” có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát hàng hóa, hành lý xuất nhập khẩu, hành khách và phương tiện vận tải xuất nhập cảnh qua cửa khâu, góp phần đảm bảo thực hiện chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế; bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tô chức, cá nhân. Nói cách khác, đối với tất cả các nước có quan hệ giao thương kinh tế với nước khác đặc biệt là trong thời đại toàn cầu hóa với xu hướng phát triển theo nền kinh tế mở thì quản lý hải quan là hoạt đông không thê thiếu và ngày càng trở nên cần thiết hơn. Chủ thé quản lý Theo điều 74 Luật Hải quan về cơ quan quản lý Nhà nước về hải quan: “1 Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về hải quan.
Tổng cục Hải quan là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý Nhà nước về hải quan. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Tổng cục Hải quan trong việc quản lý Nhà nước về hải quan. Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ , quyền hạn của mình có trách nhiệm tô chức thực hiện Pháp luật hải quan tại địa phương. Khách thể quản lý Theo Điều 11 Luật Hải quan về Nhiệm vụ của Hải quan: “ Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiêm tra, giám sát hang hóa, phương tiện vận tải; phòng chống buôn lậu, vận chuyên trái phép hàng 21 hóa qua biên giới; 16 chức thực hiện pháp luật về thuế doi với hang hóa xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý Nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khâu, nhập khẩu.