Chương 1 : Cơ sở lý luận chung về quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt động đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Chương 2 : Thực trạng của quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt động đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt Nam Chương 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt động đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trong thời gian tới Đề tài là một vấn đề hết sức phức tạp, đặc biệt với sinh viên nhƣ em vì lẽ trình độ hiểu biết còn hạn chế, kinh nghiệm của bản thân chƣa tích luỹ đƣợc nhiều, việc thu thập và xử lý thông tin gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, nội dung bài viết còn rất nhiều vấn đề chƣa đƣợc đề cập và còn nhiều thiếu sót. Em rất mong đƣợc sự đóng góp ý kiến và sự chỉ bảo của thầy cô và các bạn về nội dung cũng nhƣ cách trình bày. Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giáo viên hƣớng dẫn, Tiến sĩ Nguyễn Thị Việt Hoa đã dành thời gian đóng góp nhiều ý kiến quý báu, bổ sung cũng nhƣ chỉnh lý nội dung và hình thức nhằm giúp em hoàn thành khoá luận này.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI Trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ trên thế giới, hoạt động đầu tƣ nƣớc ngoài (ĐTNN), đặc biệt là hoạt động FDI, đã trở thành một tất yếu khách quan trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (KTQT) của các quốc gia. Công tác quản lý Nhà nƣớc đối với nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là một trong những công cụ quan trọng để tăng cƣờng khả năng thu hút FDI, thúc đẩy tiến trình tham gia vào xu thế tự do hóa đầu tƣ đang diễn ra rộng khắp trên thế giới. Trong chƣơng một, luận văn sẽ lần lƣợt làm rõ những vấn đề cơ bản liên quan đến nguồn vốn FDI và khái niệm quản lý Nhà nƣớc đối với FDI. Những khái niệm cơ bản về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1.
Khái niệm và đặc điểm của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Khái niệm Đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc hình thành thông qua sự chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nƣớc, sự khác nhau về quyền sở hữu các yếu tố sản xuất, tài nguyên thiên nhiên, vòng đời của sản phẩm, trình độ phát triển không đồng đều của lực lƣợng sản xuất… Các yếu tố này đã thúc đẩy sự trao đổi và phân công lao động quốc tế dựa trên lợi thế so sánh giữa các quốc gia, đồng thời sự khác nhau giữa nhu cầu và khả năng tích lũy vốn ở các nƣớc đã làm tăng nhu cầu đầu tƣ ra nƣớc ngoài để thâm nhập, mở rộng thị trƣờng, tăng lợi nhuận và đạt đƣợc các mục tiêu kinh tế nhất định. Nhìn chung, ĐTNN là một quá trình có sự di chuyển vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác theo các cam kết đầu tƣ đƣợc thỏa thuận nhằm đƣa lại lợi ích cho các bên tham gia. Về bản chất, ĐTNN là hình thức xuất khẩu tƣ bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa.
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI ) là một bộ phận cấu thành nên đầu tƣ nƣớc ngoài. FDI đang ngày càng chứng tỏ vai trò đặc biệt quan trọng khi tỷ trọng đóng góp vào ĐTNN lớn và không ngừng gia tăng. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiện nay trên thế giới, khái niệm FDI đƣợc diễn giải theo nhiều cách khác nhau, tùy theo quan điểm và góc độ tiếp cận của các nhà kinh tế. Theo Tổ chức Thƣơng mại quốc tế WTO, thì “FDI xảy ra khi một nhà đầu tƣ từ một nƣớc (nƣớc chủ đầu tƣ) có đƣợc một tài sản ở một nƣớc khác (nƣớc thu hút đầu tƣ) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phƣơng diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác”. Trong khi quỹ tiền tệ quốc tế IMF lại đƣa ra cách định nghĩa về FDI nhƣ sau: FDI là số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tư mong muốn tìm được chỗ đứng trong việc quản lý doanh nghiệp và mở rộng thị trường. Khái niệm này nhấn mạnh vào hai yếu tố là lợi ích lâu dài của hoạt động đầu tƣ và động cơ đầu tƣ là dành quyền kiểm soát trực tiếp hoạt động quản lý doanh nghiệp.
Tổ chức OECD cũng đƣa ra khái niệm nhƣ sau: “đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: - Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư - Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đó - Tham gia vào một doanh nghiệp mới - Cấp tín dụng dài hạn ( trên 5 năm) Khái niệm của OECD về cơ bản cũng giống nhƣ khái niệm của IMF về FDI, đó là cũng thiết lập các mối quan hệ lâu dài (tƣơng tự với việc theo đuổi lợi ích lâu dài trong khái niệm của IMF), và tạo ảnh hƣởng đối với việc quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên khái niệm này chỉ cụ thể hơn cách thức để nhà đầu tƣ tạo ảnh hƣởng đối với hoạt động quản lý doanh nghiệp. Ở nƣớc ta, khái niệm về FDI không đƣợc quy định cụ thể mà thông qua khái niệm về ĐTNN. Khái niệm về ĐTNN đƣợc quy định rõ tại khoản 12 điều 3 Luật 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầu tƣ 2005: “ĐTNN là việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tƣ”.
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu một cách khái quát về FDI nhƣ sau: “ FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình.” Tài sản đƣợc đề cập đến trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, nhà xƣởng, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp đồng và giấy phép có giá trị,…), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý,…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiểu, giấy ghi nợ,…). Nhƣ vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nƣớc ngoài. Đặc điểm Từ khái niệm của FDI, có thế khái quát đƣợc một số đặc điểm cơ bản về FDI nhƣ sau: Đây là hình thức đầu tƣ bằng vốn của tƣ nhân do các chủ đầu tƣ tự quyết định đầu tƣ, tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Hình thức này mang tính khả thi và đem lại hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế.
Mục đích của hoạt động FDI là tìm kiếm lợi nhuận. FDI là hoạt động đầu tƣ tƣ nhân, do đó mục đích ƣu tiên hàng đầu của các doanh nghiệp FDI là tìm kiếm lợi nhuận. Các nƣớc nhận đầu tƣ, nhất là các nƣớc đang phát triển cần phải lƣu ý đặc điểm này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hƣớng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu kinh tế, xã hội của mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích của chủ đầu tƣ. Các chủ đầu tƣ nƣớc ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp nƣớc tiếp nhận đầu tƣ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tƣ.
Tỷ lệ vốn tối thiểu đƣợc quy định khác nhau theo từng nƣớc, luật Mỹ quy định tỷ lệ này là 10%, Pháp và Anh là 20%, còn tại Việt Nam, còn tại Việt Nam, Luật Đầu tƣ 2005 và Nghị định 108/2006/NĐ-CP không quy định tỷ lệ tối thiểu góp vốn cổ phần mà tỷ lệ này sẽ đƣợc thực hiện theo pháp luật chuyên ngành nhƣ chứng khoán, bảo hiểm,. Các lĩnh vực còn lại nhà đầu tƣ đƣợc mua với tỷ lệ không hạn chế và phải phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tỷ lệ đóng góp vốn của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng đƣợc phân chia dựa theo tỷ lệ này. Thông qua FDI, nƣớc chủ nhà có thể tiếp nhận đƣợc công nghệ, kĩ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý… là những mục tiêu mà các hình thức đầu tƣ khác không giải quyết đƣợc Nguồn vốn đầu tƣ này không chỉ bao gồm vốn đầu tƣ ban đầu của chủ dự án đầu tƣ dƣới hình thức vốn pháp định mà trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng nhƣ vốn đầu tƣ từ nguồn lợi nhuận thu đƣợc.
Việc tìm hiểu và nắm vững khái niệm cũng nhƣ các đặc điểm của FDI sẽ giúp chúng ta có đƣợc nền tảng căn bản để đi sâu tìm hiểu những vấn đề có liên quan. Các hình thức chủ yếu của FDI 2. Phân loại theo hình thức thâm nhập FDI phân theo hình thức thâm nhập thƣờng đƣợc chia ra hai loại chính: đầu tƣ mới và mua lại và sáp nhập qua biên giới.1 Đầu tƣ mới (Greenfield investment) là hoạt động đầu tƣ trực tiếp vào các cơ sở sản xuất kinh doanh hoàn toàn mới ở nƣớc ngoài. 1 Theo định nghĩa của UNCTAD http://www.org/Templates/webflyer.asp?docid=2928&intItemID=1465&lang=1 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mua lại và sáp nhập qua biên giới ( M&A – merger and acquisition): là một hình thức FDI liên quan đến việc mua lại hoặc hợp nhất với một doanh nghiệp nƣớc ngoài đang hoạt động.