CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THỰC HIỆN DỰ ÁN XÂY DỰNG SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ CÔNG TẠI DOANH NGHIỆP 1. Vốn đầu tư công và dự án xây dựng sử dụng vốn đầu tư công 1. Vốn đầu tư công 1. Khái niệm vốn đầu tư công Theo Nguyễn Quang Thái (2011), “đầu tư công (đầu tư nhà nước) là phần đầu tư trong khu vực kinh tế nhà nước (ngoài khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực kinh tế ngoài nhà nước) bao gồm các bộ phận cấu thành như: Đầu tư trong cân đối ngân sách; Đầu tư của các chương trình hỗ trợ đầu tư có mục tiêu; Đầu tư từ các khoản vốn vay; Các đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước trực tiếp hay từ các năm trước tồn đọng”.
Đầu tư công được hiểu là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án và đối tượng đầu tư công khác theo quy định. Vốn đầu tư công bao gồm: vốn ngân sách nhà nước; vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào quy định trên và định nghĩa về đầu tư công, có thể hiểu vốn đầu tư công là nguồn vốn Nhà nước lấy từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác của các cơ quan có liên quan để tiến hành thực hiện các chương trình, dự án đầu tư theo quy định của pháp luật. Đặc điểm vốn đầu tư công Đặc điểm tհứ nհất về vốn đầu tư công là vốn này kհông có tínհ ổn địnհ.
Vốn đầu tư công là yêu cầu tất yếu nհằm tհúc đẩy pհát triển kinհ tế của một quốc gia, đó là tạo ra cơ sở vật cհất, năng lực sản xuất và vật tư հàng հóa dự trữ của nền kinհ tế. Đồng tհời nó còn có ý ngհĩa nհư là "vốn mồi" để tạo môi trường đầu tư tհuận lợi nհằm tհu հút các nguồn đầu tư trong và ngoài nước tհam gia. Tհứ հai, vốn đầu tư công mang tínհ cհất cհi tícհ luỹ: Vốn đầu tư công tհực cհất là kհoản cհi cհo đầu tư pհát triển, nó tạo ra cơ sở vật cհất kỹ tհuật, năng lực sản xuất, tăng tícհ lũy tài sản của nền kinհ tế quốc dân; là nền tảng vật cհất đảm bảo cհo sự tăng trưởng kinհ tế và pհát triển xã հội từ đó làm tăng sản pհẩm quốc nội. Tհứ ba, pհạm vi và mức độ vốn đầu tư công gắn liền với việc tհực հiện mục tiêu, kế հoạcհ pհát triển kinհ tế - xã հội của một đất nước trong từng tհời kỳ.
Một trong nհững cơ sở và nền tảng để xây dựng, lập kế հoạcհ đầu tư công là căn cứ vào tìnհ հìnհ pհát 5 triển kinհ tế xã հội của đất nước. Kế հoạcհ pհát triển kinհ tế - xã հội của nհà nước trong từng tհời kỳ có ý ngհĩa quyết địnհ đến mức độ và tհứ tự ưu tiên trong bố trí vốn đầu tư công. Cհi cհo lĩnհ vực đầu tư công nհằm đảm bảo pհục vụ tốt nհất cհo việc tհực հiện kế հoạcհ pհát triển kinհ tế - xã հội và հiệu quả của cհi vốn đầu tư công. Dự án xây dựng sử dụng vốn đầu tư công 1.
Khái niệm dự án xây dựng sử dụng vốn đầu tư công a. Khái niệm dự án Theo Từ Quang Phương (Giáo trình Quản lý dự án, 2011) thì “dự án có nhiều cách định nghĩa. Tùy theo mục đích mà nhấn mạnh một khía cạnh nào đó. Trên phương diện phát triển, có hai cách hiểu về dự án: cách hiểu "tĩnh" và cách hiểu "động".
Theo cách hiểu "tĩnh" thì dự án là hình tượng về một tình huống (một trạng thái) mà ta muốn đạt tới. Theo cách hiểu thứ hai "động" có thể định nghĩa dự án như sau: Theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới. Như vậy, theo định nghĩa này thì: (1) Dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định; (2) Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà tạo nên một thực thể mới”. Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa dự án như sau: Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất.
Định nghĩa này nhấn mạnh hai đặc tính: (1) Nỗ lực tạm thời (hay có thời hạn). Nghĩa là, mọi dự án đầu tư đều có điểm bất đầu và kết thúc xác định. Dự án kết thúc khi mục tiêu của dự án đã đạt được hoặc dự án bị loại bỏ: (2) Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất. Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất là sản phẩm hoặc dịch vụ khác biệt so với những sản phẩm tương tự đã có hoặc dự án khác.
Khái niệm dự án xây dựng sử dụng vốn đầu tư công Căn cứ vào tính chất, dự án đầu tư công được phân loại như sau: Dự án có cấu phần xây dựng là dự án đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng dự án đã đầu tư xây dựng, bao gồm cả phần mua tài sản, mua trang thiết bị của dự án; Dự án không có cấu phần xây dựng là dự án mua tài sản, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua, sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị, máy móc và dự án khác không quy định tại điểm a khoản này. Căn cứ vào quy định trên, dự án xây dựng sử dụng vốn đầu tư công được xếp vào 6 nhóm dự án có cấu phần xây dựng là dự án đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng dự án đã đầu tư xây dựng, bao gồm cả phần mua tài sản, mua trang thiết bị của dự án. Từ đó ta có khái niệm dự án xây dựng sử dụng vốn đầu tư công là dự án đầu tư xây mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng dự án đã đầu tư xây dựng, bao gồm cả phần mua tài sản, trang thiết bị của dự án với mục đích đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đặc điểm của dự án xây dựng sử dụng vốn đầu tư công Các dự án xây dựng sử dụng vốn đầu tư công có những có đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, các dự án xây dựng cơ bản, đặc biệt là công trình sử dụng vốn đầu tư công, có tính chu trình và được thực hiện theo một quy trình nghiêm ngặt.
Quy trình thực hiện dự án đầu tư bao gồm các bước: hình thành ý tưởng, chuẩn bị dự án, triển khai thực hiện, hoàn tất đầu tư, bàn giao và đưa vào sử dụng, vận hành kết quả, và cuối cùng là đánh giá tổng kết dự án. Khác với các hoạt động đầu tư xây dựng thông thường (không yêu cầu hình thành dự án), các công trình sử dụng vốn đầu tư công phải tuân thủ quy trình xây dựng, lập luận chứng, thẩm tra, thẩm định và phê duyệt một cách chặt chẽ và phức tạp. Quy trình này nhằm đảm bảo tính khoa học, độ tin cậy và hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng. Hai là, dự án đầu tư xây dựng nói chung, các công trình xây dựng bằng nguồn vốn đầu tư công nói riêng có mục đích, mục tiêu rõ ràng.
Dự án đầu tư xây dựng cơ bản ngay từ giai đoạn hình thành phải xác định được mục tiêu đầu tư. Bất kỳ một dự án xây dựng công trình bằng nguồn vốn đầu tư công được lập, thẩm tra, thẩm định và phê duyệt đều phải đảm bảo tính mục đích. Ba là, các dự án đầu tư xây dựng, đặc biệt là các công trình xây dựng cơ bản sử dụng vốn đầu tư công luôn mang tính kết quả. Kết quả của các dự án này chính là các công trình xây dựng hoàn chỉnh.
Các công trình này sau khi được đưa vào khai thác sử dụng có thể bao gồm công trình hạ tầng kỹ thuật hoặc công trình hạ tầng xã hội. Đối với các dự án xây dựng công trình giao thông vận tải, các kết quả đạt được đều nhằm thực hiện mục tiêu cụ thể của dự án. Do đó, về nguyên tắc, không được phép tồn tại phế phẩm trong kết quả của dự án đầu tư xây dựng. Bốn là, về nguồn lực đảm bảo cho dự án đầu tư xây dựng.
Để các dự án đầu tư xây dựng nói chung, đặc biệt là các công trình xây dựng cơ bản sử dụng nguồn vốn đầu tư công, đạt được các mục tiêu đề ra, cần phải có kế hoạch bố trí đầy đủ nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) ngay từ giai đoạn đầu đến giai đoạn hoàn thành của toàn bộ chu trình dự án. Sẽ không thực tế nếu một dự án xây dựng công trình cơ bản bằng vốn ngân sách nhà 7 nước được lập nhưng không được đảm bảo nguồn lực một cách chắc chắn. Do đó, trong quá trình lập, thẩm định và phê duyệt dự án, việc xác định nguồn lực và đánh giá tính khả thi của nó là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và tiến độ thực hiện dự án. Năm là, về các chủ thể tham gia, mọi dự án đầu tư xây dựng đều có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, bao gồm: Chủ đầu tư, các nhà thầu (xây lắp, tư vấn, cung cấp hàng hóa, dịch vụ, quản lý dự án, tư vấn giám sát), tổ chức tài trợ vốn và các cơ quan quản lý nhà nước.
Quản lý thực hiện dự án xây dựng sử dụng vốn đầu tư công tại doanh nghiệp xây dựng 1. Khái niệm và mục tiêu Quản lý thực hiện dự án xây dựng sử dụng vốn đầu công tại doanh nghiệp 1. Khái niệm Khái niệm quản lý thực hiện dự án xây dựng có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo Trịnh Quốc Thắng (2013) “Quản lý dự án là điều khiển một kế hoạch đã được hoạch định trước về những phát sinh xảy ra, trong một hệ thống bị ràng buộc bởi các yêu cầu về pháp luật, tổ chức, con người, tài nguyên nhằm đạt được các mục tiêu đã định ra về chất lượng, thời gian, giá thành, an toàn lao động và môi trường”.
Theo chức năng quản lý các hoạt động, quản lý thực hiện dự án là quản lý các lĩnh vực chuyên môn gồm: quản lý chất lượng, quản lý chi phí, quản lý tiến độ, quản lý an toàn lao động, quản lý môi trường xây dựng. nhằm đạt được các mục tiêu đã định.