Chương 1 tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư. Cụ thể chương trình trình bày khái niệm dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư; nhiệm vụ, nguyên tắc và các công cụ quản lý dự án đầu tư, cũng như các nội dung quản lý dự án đầu tư dự án đầu tư quan trọng nhất. Khái niệm Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau, trong đó: Theo Ngân hàng thế giới “Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định”. Theo Lyn Squire “ Dự án là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn vốn có nhằm đem lại lợi ích thực cho xã hội càng nhiều càng tốt”.
Theo Điều 3 Luật Xây dựng 2014, “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng”.[19] 6 Theo Điều 3 Luật Đầu tư 2014, “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”.[16] Theo Nghị định 52/1999 NĐ-CP về quy chế quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản, “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất có liên quan tới việc bỏ vốn để tạo vốn, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thơì gian nhất định”. Về mặt hình thức: Dự án đầu tư được hiểu là tập hồ sơ trình bày chi tiết, có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những kết quả và mục tiêu nhất định trong tương lai.[22] Nếu xét trên góc độ quản lý: Dự án đầu tư là công cụ hoạch định, tổ chức và thực hiện việc sử dụng vốn, vật tư lao động để tạo ra các hiệu quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian nhất định.[22] Ngoài ra, xét trên góc độ kế hoạch hóa: Dự án đầu tư là kế hoạch chi tiết của công cuộc đầu tư, phát triển kinh tế xã hội, tạo tiền đề cho các quyết định đầu tư. Như vậy, nếu xét theo góc độ này dự án đầu tư là hoạt động kinh tế riêng biệt trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung.[22] Còn nếu xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là các hoạt động và chi phí cần thiết được tổ chức theo một kế hoạch chi tiết với thời gian và địa điểm cụ thể mở rộng hoặc cải tạo cơ sở vật chất nhằm thực hiện các mục tiêu trong tương lai.[22] Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu dự án đầu tư là bản kế hoạch chi tiết để thực hiện những nội dung và mục tiêu cụ thể trong tương lai; đồng thời là căn cứ quan trọng để cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép đầu tư và là cơ sở để các nhà đầu tư triển khai hoạt động đầu tư và đánh giá hiệu quả của dự án.
Các tính chất của một dự án đầu tư Dự án đầu tư có những tính chất cơ bản như sau: Một là, tính khoa học. Tính khoa học của dự án đầu tư được thể hiện trên những khía cạnh sau: – Về số liệu thông tin, cơ sở dữ liệu để xây dựng dự án phải đảm bảo trung thực, chính xác, phải chứng minh được nguồn gốc và xuất xứ của những số liệu đã thu thập được.[23] – Về phương pháp lý giải. Các nội dung của dự án không tồn tại độc lập mà luôn nằm trong một thể thống nhất. Vì vậy, quá trình phân tích dự án phải đảm bảo tính logic và chặt chẽ.[23] – Về phương pháp tính toán.
Khối lượng tính toán trong một dự án thường rất lớn, khi thực hiện tính toán các chỉ tiêu cần đảm bảo đơn giản và chính xác.[23] – Về hình thức trình bày. Một dự án đầu tư bao gồm rất nhiều nội dung, khi trình bày phải đảm bảo có hệ thống, rõ ràng và cụ thể.[23] Hai là, tính pháp lý. Dự án đầu tư cần có cơ sở pháp lý vững chắc, phù hợp với chính sách và luật pháp của Nhà nước. Do vậy, các chủ thể xuât dựng dự án đầu tư cần nghiên cứu kỹ chủ trương, chính sách của Nhà nước và các văn bản luật pháp có liên quan đến các hoạt động đầu tư.[23] Ba là, tính thực tiễn của dự án đầu tư được thể hiện ở khả năng ứng dụng và triển khai trong thực tế.
Các nội dung, khía cạnh phân tích của dự án đầu tư cần dựa trên những căn cứ thực tế và được xây dựng phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể về mặt bằng, thị trường, vốn…[23] Bốn là, tính thống nhất. Lập và thực hiện dự án đầu tư là quá trình gian nan, phức tạp, liên quan đến nhiều cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, các nhà tài trợ…[23] 8 Năm là, tính phỏng định. Những nội dung, tính toán về quy mô dự án đầu tư, chi phí, lợi nhuận đem lại… trong dự án chỉ có tính chất dự trù, dự báo. Thậm chí, trong nhiều trường hợp, thực tế xảy ra lại khác xa so với dự báo ban đầu trong dự án đầu tư.
Phân loại dự án đầu tư Theo quy định hiện hành dự án đầu tư được phân loại theo các nhóm như sau: a. Phân loại dự án đầu tư theo nguồn vốn huy động. - Dự án đầu tư bằng nguồn vốn đầu tư công + Nguồn vốn ngân sách nhà nước + Nguồn vốn trái phiếu chính phủ + Nguồn vốn công trái quốc gia + Nguồn vốn trái phiếu chính quyền địa phương + Nguồn vốn hỗ trợ phát triển + Nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài + Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước + Nguồn vốn từ nguồn thu để lại đầu tư nhưng chưa đưa vào ngân sách nhà nước + Nguồn vốn vay khác của ngân sách nhà nước - Dự án đầu tư bằng các nguồn vốn khác + Nguồn vốn vay thương mại + Nguồn vốn liên doanh liên kết + Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài + Nguồn vốn huy động trên các thị trường tài chính rong nước và quốc tế 9 + Nguồn vốn tư nhân b. Phân loại theo mức độ quan trọng và quy mô của dự án đầu tư - Dự án đầu tư mức độ quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trương cho phép đầu tư.
- Các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B và C theo quy định của pháp luật theo từng thời kỳ (hiện nay được quy định tại Phụ lục 1, Nghị định số 16/2005/NĐ-CP). Phân loại dự án đầu tư theo tính chất đầu tư. - Dự án đầu tư có phần xây dựng: Là những dự án đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, mở rộng dự án đã đầu tư xây dựng bao gồm cả phần nội dung mua tài sản, mua trang thiết bị của dự án. - Dự án đầu tư không có phần xây dựng: Là những dự án mua sắm tài sản, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua, sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị máy móc và dự án khác.
Phân loại dự án theo lĩnh vực đầu tư. - Dự án đầu tư vào lĩnh vực giao thông vận tải - Dự án đầu tư vào lĩnh vực nông – lâm – ngư – diêm nghiệp - Dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp - Dự án đầu tư vào lĩnh vực xây dựng … 1. QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ 1. Khái niệm và mục tiêu quản lý dự án đầu tư 1.
Khái niệm quản lý 10 Trong nghiên cứu khoa học, có nhiều quan niệm quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau. Sau đây là một số khái niệm quản lý thường gặp. Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”.[15] Theo Đặng Quốc Bảo: “Công tác quản lý lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và Lý. Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn định, quá trình “Lý” gồm việc sửa sang sắp xếp, đổi mới đưa vào thế “phát triển”.78] Harold Koontz: “Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác”.[27] “Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức”.[5] Từ những quan niệm này cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức.
Đó chính là quá trình tạo nên sức mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung. Khái niệm quản lý dự án đầu tư Theo Giáo trình quản lý dự án của tác giả PGS. Từ Quang Phương: “Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép”.[14] 11 Theo Viện quản lý dự án Hoa Kỳ (PMI): “Quản lý dự án là việc áp dụng các kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật vào các hoạt động dự án để đạt được các mục tiêu đề ra”.