Chương 1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý dự án công nghệ thông tin Chương 2. Phương pháp và thiết kế nghiên cứu luận văn Chương 3. Thực trạng công tác quản lý dự án công nghệ thông tin ởngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chương 4.
Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án công nghệ thông tin ở ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Có một số bài báo, đề tài viết về quản lý dự án công nghệ thông tin, tuy nhiên số lượng các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về quản lý dự án CNTT không nhiều, chủ yếu mang tính định hướng, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ nêu một vài bài tiêu biểu: (1) – Đàm Lê Anh, 2013, Quản trị dự án công nghệ thông tin. Đề tài đã nêu được một số khái niệm cơ bản về quản lý dự án công nghệ thông tin: định nghĩadự án là nỗ lực nhằm tạo nên các sản phẩm mới hoặc các dịch vụ mới, duy nhất. Đề tài cũng nêu được một số đặc trưng của dự án, chủ thể của dự án, các quy trình quản lý dự án, các đặc điểm, mục tiêu của quản lý dự án trong đó quản lý dự án bao gồm hai cấu phần chính: Quản lý về kỹ thuật, bao gồm công việc, ngân sách, tiến độ, chất lượng kỹ thuật; Quản lý về con người, bao gồm con người và các tổ chức tham gia thực hiện dự án và sự trao đổi người.
Vấn đề con người thường là vấn đề ảnh hưởng tới sự thành bại của dự án bên cạnh các kỹ năng kỹ thuật, cần phát triển các kỹ năng con người trên cơ sở các chuẩn kỹ năng như suy nghĩ, trao đổi, trình bày, giao tiếp, … Ngoài ra đề tài cũng đưa ra các ý tưởng về bản đồ tư duy (Mindmaps); phân tích chiến lược từ trên xuống(top-down), phân tích chi phí – lợi ích (BCA hoặc CBA) và đưa ra các nhóm quy trình để thực hiện một dự án gồm quy trình khởi đầu, quy trình lập kế hoạch, quy trình thực hiện, quy trình kiểm soát, quy trình kết thúc. Đề tài đã xây dựng các chương trình hành động, lập kế hoạch, xây dựng mục tiêu để hoàn thành các công việc của dự án theo đúng yêu cầu kỹ thuật, đề tài đã đưa lên khung lý thuyết về các kiến thức cơ sở của người quản lý dự án, kiến thức về quản lý luồng công việc dự án: 4 xây dựng kế hoạch dự án, theo dõi dự án và kiểm soát thực hiện, quản lý thay đổi, kết thúc dự án, đánh giá hoàn thành dự án. Kiến thức về kiểm soát tiến độ: Quản lý nguồn lực, quản lý tổ chức và nhân viên, quản lý mua sắm, quản lý chi phí, quản lý chất lượng, quản lý rủi ro. (2) – Trương Vĩnh Hảo, 2011.
Phương pháp Quản lý dự án Công nghệ thông tin. Nội dung của đề tài bao gồm: Khái niệm về quản lý dự án công nghệ thông tin; Quy trình quản lý chi phí dự án, phần mềm quản lý chi phí dự án, mô hình COCOMO Khái niệm về quản lý chi phí dự án bao gồm những quy trình yêu cầu đảm bảo cho dự án được hoàn tất trong sự cho phép của ngân sách. Chi phí là tài nguyên được hy sinh hay tính trước để đạt được một mục tiêu rõ ràng hay để trao đổi cái gì đó và thường được đo bằng đơn vị tiền tệ. Đề tài đã giải quyết được một số vấn đề khó khăn sẽ gặp khi thực hiện các công việc cụ thể trong dự án, xác định được phạm vi nhất định nào ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên phục vụ cho dự án, tổ chức thực hiện dự án.
(3) – Nguyễn Hữu Quốc, 2007, Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông. Đề tài đã nêu lên các khái niệm cơ bản về dự án, dự án công nghệ thông tin, quản lý dự án. Tác giả đã xác định thuộc tính của các dự án, mục tiêu và tác dụng của quản lý dự án, các giai đoạn, vòng đời của dự án trong đó tác giả nêu lên một số trường hợp các dự án thất bại và nguyên nhân của nó. Các dự án công nghệ thông tin là riêng biệt, độc lập có điểm bắt đầu và điểm kết thúc, có sản phẩm cụ thể cuối cùng và duy nhất về sản phẩm hoặc về môi trường của nó.
Quản lý dự án là để đưa ra một sản phẩm cuối cùng đúng hạn trong phạm vi ngân sách hay nguồn tài chính cho phép phù hợp theo các đặc tả với 5 một mức độ chất lượng để phục vụ các nhu cầu kinh doanh để đáp ứng các tiêu chuẩn chuyên môn và kỳ vọng của công tác quản lý. Định nghĩa về dự án bị thất bại là không đạt được các mục tiêu của dự án hoặc bị vượt quá ngân sách ít nhất 30%, không rõ ràng các mục tiêu 18%, thiếu thông tin là 17%, quản lý dự án không tốt là 32%, lý do khác là 12%. Những nguyên nhân thất bại do nhà cung cấp phần cứng/phần mềm kém, nhân viên cao cấp trong nhóm làm việc không hiệu quả, lập kế hoạch các mục tiêu không được rõ ràng, đầy đủ, đáp ứng số liệu đầu vào không đạt yêu cầu. Tác giả đã nêu những sáng kiến về việc cải tổ trong công tác quản lý dự án công nghệ thông tin.
Trong đó đặc biệt lưu ý trọng tâm là nắm chắc các thuộc tính đặc trưng của dự án công nghệ thông tin. Bên cạnh các đề tài trên còn có một số bài báo, đề tài nghiên cứu về các dự án liên quan đến quản lý dự án công nghệ thông tin. Như vậy, trong những năm qua đã có một vài công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý dự án nói chung và quản lý dự án công nghệ thông tin nói riêng. Nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện về quản lý dự án công nghệ thông tin tại ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam.
Vì vậy, với đề tài luận văn “Quản lý các dự án về Công nghệ thông tin ở Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam” học viên mong muốn được góp một phần nhỏ vào khoảng trống nghiên cứu còn lại cho vấn đề quản lý dự án công nghệ thông tin qua đó hi vọng sẽ giúp ích cho mục tiêu giảm thiểu rủi ro, tối ưu hóa hệ thống, quy trình nhằm mục tiêu phát triển bền vững của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam. Khái niệm về quản lý dự án Quản lý dự án là lĩnh vực mang tính kinh nghiệm, có ý nghĩa quan trọng đối với bất kỳ một nhà quản lý hay một cá nhân có tham vọng trở thành quản lý. 6 Để có thể hiểu rõ và làm chủ được những kiến thức, nội dung xung quanh nhiệm vụ, hoạt động của quản lý dự án (cụ thể là các dự án công nghệ thông tin), trước tiên chúng ta cần nắm rõ các kiến thức, khái niệm, thuật ngữ trong quản lý dự án. Khái niệm dự án Theo quan điểm chung, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải thực hiện theo một phương pháp riêng, trong khuôn khổ nguồn lực riêng, kế hoạch tiến độ cụ thể nhằm tạo ra một sản phẩm mới.
Từ đó cho thấy dự án có tính cụ thể, mục tiêu rõ ràng xác định để tạo ra một sản phẩm mới. Theo PMBOK® Guide 2000, trang 4, dự án là “một nỗ lực tạm thời được cam kết để tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất”. Với cách định nghĩa này có thể hiểu hoạt động dự án tập trung vào hai đặc tính chính: Thứ nhất là nỗ lực tạm thời: mọi dự án đều có điểm bắt đầu và kết thúc cụ thể. Dự án chỉ kết thúc khi đã đạt được mục tiêu dự án hoặc dự án thất bại.
Thứ hai là sản phẩm và dịch vụ của dự án là duy nhất: điều này thể hiện sự khác biệt so với những sản phẩm, dịch vụ tương tự đã có hoặc kết quả của dự án khác. Tóm lại,dự án là một chuỗi các công việc (nhiệm vụ, hoạt động), được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện ràng buộc về phạm vi, thời gian và ngân sách. Các thuộc tính của dự án Dự án có mục đích và kết quả rõ ràng: Tất cả các dự án thành công đều phải có kết quả được xác định rõ ràng như một đoạn đường, một cây cầu, một khu đô thị,. Mỗi dự án bao gồm tập hợp các nhiệm vụ cần thực hiện, mỗi nhiệm vụ cụ thể này khi thực hiện sẽ thu được kết quả độc lập và tập hợp các kết quả đó tạo thành kết quả chung của dự án.
Các kết quả này có thể theo 7 dõi, đánh giá bằng hệ thống các tiêu chí rõ ràng. Nói cách khác, dự án bao gồm nhiều hợp phần khác nhau được quản lý, thực hiện trên cơ sở đảm bảo thống nhất các chỉ tiêu về thời gian, nguồn lực (chi phí) và chất lượng. Thời gian tồn tại của dự án có tính hữu hạn: Dự án là một sự sáng tạo. Giống như các thực thể sống, dự án cũng trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển và kết thúc.
Nó không kéo dài mãi, khi dự án kết thúc, kết quả dự án được chuyển giao, đưa và khai thác, sử dụng, tổ chức dự án giải tán. Sản phẩm, kết quả của dự án mang tính độc đáo và mới lạ: Khác với các quá trình sản xuất liên tục, có tính di truyền, lặp đi lặp lại, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt mà có tính mới, thể hiện sức sáng tạo của con người. Do đó sản phẩm và dịch vụ thu được từ dự án là duy nhất, hầu như khác biệt so với các sản phẩm cùng loại. Tuy nhiên trong nhiều dự án, tính duy nhất thường khó nhận ra.
Vì vậy mỗi dự án cần phải tạo ra những giá trị mới chẳng hạn thiết kế khác nhau, môi trường triển khai khác nhau, đối tượng sử dụng khác nhau. Từ đó cho thấy nếu 2 dự án giống nhau hoàn toàn và không tạo được giá trị mới nào, nó thể hiện có sự đầu tư trùng lặp, gây lãng phí, đây là tình trạng phổ biến của các dự án nói chung và dự án CNTT nói riêng.