CHƯƠNG 1: DOANH NGHIỆP QUÁN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH CẤU ĐƯỜNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOANH NGHIỆP 1. Doanh nghiệp quản lý khai thác công trình cầu đường và vai trò của doanh nghiệp 1. Khái niệm về doanh nghiệp quản lý khai thác công trình cầu đường Doanh nghiệp là một trong các chủ thể kinh doanh chủ yếu của nền kinh tế có vai trò to lớn trong nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nao. Việc nghiên cứu kỹ khái niệm về doanh nghiệp có một ý nghĩa hết sức cần thiết.
Theo cách tiêp cận về lý luận, nhật là về thực tiên khác nhau người ta đã đưa ra các khái niệm khác nhau về doanh nghiệp: Đoanh nghiệp là nơi tập hợp các tài năng, các điều kiện vật chất nhất định dé sản xuât ra sản phâm hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó phục vụ con người. Về phương điện luật pháp doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp là một tổ chức kinh doanh nhằm mục đích kiếm lời, được luật pháp thừa nhận (pháp nhân hoặc thể nhân); được phép kinh doanh 4rên một số lĩnh vực nhất định; có từ một chủ sở hữu trở lên và chủ sở hữu phải đâm bảo trước pháp luật bằng toàn bộ tải sản của mình (vô hạn hoặc hữu hạn); có tên gọi riêng, hoạt động với bộ máy doanh nghiệp riêng. Doanh nghiệp là một tế bào, là đơn vị cơ sở sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ, thu hút các nguồn lực của xã hội để sáng tạo và trao đổi hàng hoá, dịch vụ trên thị trường, tạo ra thu nhập quốc dân.
Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như của các cấp quản lý cân tạo những điều kiện tốt cho doanh nghiệp phát triển, làm ăn có hiệu quả, nhằm góp phan vào sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Doanh nghiệp là nơi sản xuất, nơi hợp tác, nơi thực hành quyén fue va la nơi phán chia quyên lợi. Về mặt tổ chức: Doanh nghiệp là một kiểu tổ chức, là nơi tập hợp và sử dụng các tải năng, các nguồn lực để tạo nên sản phẩm hay dịch vụ nào đó phục vụ cho xã hội theo một kỹ thuật và quy trình công nghệ nhất định trên một địa bàn nhất định. Theo quan điểm lợi nhuận M.Francois Perroux- m6t nha kinh tẾ người Pháp đã định nghĩa: Doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất thông qua đó, trong khuôn khổ một số tài sản có định (TSCĐ) nhất định, người ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất khác nhau nhằm tạo ra những sản phẩm và dich vu dé bán trên thị trường, nhằm thu về khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm.
Doanh nghiệp là một tổ chức phối hợp và tổ chức các nguồn lực để sản xuất ra hàng hoá hoặc dịch vụ dé bán ra thị trường. Trên quan điểm chức năng, có thê định nghĩa: Doanh nghiệp là một đơn VỊ sản xuât kinh doanh (SXKD) nhăm thực hiện một, một số hay tat cả các công đoạn trong QLĐVKT ell qua trinh đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ với mục _ đích sinh lợi. Theo luật doanh nghiệp: “Doanh nghiệp là tô chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ôn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định cua pháp luật nhăm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh `. Mặc dù có sự khác nhau giữa các định nghĩa trên, song hàm nghĩa cơ bản là nhự nhau, tức là, doanh nghiệp là một tô chức kinh tê.
Cụ thê hơn, doanh nghiệp là một tô chức kinh doanh kiêm lợi trong khuôn khô pháp lý và đạo lý. Như vậy, có thê khái quát, doanh nghiêp có một số đặc trưng cơ bản sau: , - Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh. Mục đích hoạt động của doanh nghiệp là tìm kiểm lợi nhuận (doanh nghiệp SXKD), hoặc hoạt động phục vụ các nhu cầu xã hội (doanh nghiệp hoạt động công ích). - Doanh nghiệp là một tô chức sống, tập hợp những người lao động và những thành viên tham gia.
Vì vậy, tác động hướng đích tới doanh nghiệp là tác động tới con người. Con người và quan hệ giữa người với người giữ vị trí trung tâm trong tô chức quản lý các doanh nghiệp. - Doanh nghiệp là một rổ chức, một chủ thé hoạt động SXKD hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu câu thị trường, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao địch ôn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. - Doanh nghiệp là một hệ thông mở có quan hệ khăng khít với môi trường SXKD.
Mỗi doanh nghiệp là một khâu trong hệ thống phân công xã hội của nên kinh tế. Doanh nghiệp là một đơn vị tiêu thụ, đồng thời là đơn vị cung cấp trên thị trường mua và bán. Vì vậy, sự hoạt động có hiệu quả của doanh nghiệp không thể tách rời các chính sách kinh tế vĩ mô và các yếu tố khác của môi trường SXKD. Một đơn vị kinh doanh Một tô chức Một tô chức sông Hệ thông mở Hình 1 1: Một số đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp Doanh nghiệp quản l khai thác công trình cầu đường (DNQLKTCTCĐ) là một loại doanh nghiệp mà chức năng chính của nó là quản lý khai thác và bảo trì công trình cầu đường, phục vụ tốt nhất cho khai thác có hiệu quả và an toàn các công trình hiện có, đáp ứng tốt nhất nhu cầu giao lưu kinh tế trong xã hội.
Cũng như các doanh nghiệp xây dựng giao thông khác, các doanh nghiệp quản lý khai thác công trình cầu đường cũng bao gồm các loại hình: doanh nghiệp Nhà Nước QLKTCTCĐ, công ty cô phần QLKTCTCĐ, công ty TNHH QLKTCTCĐ. Thực tế trong hoạt động của thị trường xây dựng, khai thác và bảo trì công trình người ta còn gặp các tập đoàn (group), các hang (Firme) thầu lớn nhỏ khác nhau. Đây là loại hình doanh nghiệp hỗn hợp sản xuất — kỹ thuật và kinh tế. Nói cách khác, tập doan, hãng là một loại doanh nghiệp, một đơn vị kinh tế, nơi tổ hợp các nhân tố sản xuất để thu được của cải vật chất và các dịch vụ cung cấp cho thị trường.
Vai trò và mục đích hoạt động của doanh nghiệp quản lý khai thác công trình câu đường 1. Vai trò của doanh nghiệp Doanh nghiệp QLKTCTCPĐ có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân: a. DNOLKTCTCD la m6t chi: thé sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ khai thác cơ sở hạ táng kỹ thuật. Trong cơ chế của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp nói chung và các DNQLKTCTCĐ không còn là một cấp quản lý chỉ biết chấp hành và sản xuất theo lệnh của câp trên mà là một chủ thể sản xuất sản phẩm, hàng hóa, cung ứng dịc vụ khai thác cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong khuôn khổ pháp luật, có quyền quyết định và chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuât kinh doanh và cung ứng dịch vụ của mình.
DNQLKTCTCĐ là một pháp nhân kinh tế bình đăng trước pháp luậi. Trước pháp luật, DNQLKTCTCĐ được xem là một chủ thể có đầy đủ tư cách pháp nhân riêng biệt với các chủ sở hữu doanh nghiệp. Mọi doanh nghiệp, dù là doanh nghiệp Nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân, là công ty TNHH hay công ty cô phan.déu được đôi xử như nhau. cDNOLKTCTCĐ là một đơn vị kinh tế, là tế bào trong hệ thống giao thông vận tải thông nhất của nên kinh tê quốc dan.
Hệ thống GTVT là một tổng thê thống nhất mà mỗi doanh nghiệp nói chung và các DNQLKT CTCD chỉ là một tê bào, một mặt xích. Nhà nước tạo môi trường thuận loi dé các doanh nghiệp tự do kinh doanh trong khuôn khô của một hệ thông pháp luật tạo thành sức mạnh kinh tê chung của cả nước. Hoạt động của doanh nghiệp là hoạt động theo pháp luật và đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích chung của nền kinh tế quốc dân mà trên hết là đảm bảo giao thông thông suốt, an toàn. DNOLKTCTCD 1a mo6t tổ chức xã hội.
DNQLKTCTCĐ trước hết là một tập hợp những con người gắn bó với nhau, cùng nhau tiên hành các hoạt động sản xuât kinh đoanh nhăm đạt được các mục tiêu chung đã định. Ngoài việc phải chăm lo đời sông vat chat va tính thân, bôi dưỡng và nâng cao trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và chuyên môn công nhân viên chức, doanh nghiệp còn có trách nhiệm làm tôt các vân đê xã hội như bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Làm tôt các vân đề xã hội cũng là một động lực quan trọng bảo đảm sự phát triển có hiệu quả cao vê mặt kinh tê xã hội của DNQLKTCTCĐ trong hiện tại và tương lai. Mục đích và mục tiêu của doanh nghiệp Doanh nghiệp nói chung và các DNQLKTCTCĐ nói riêng cần báo đảm tính bền vững của mình, nó cần tồn tại, phát triên và cuôi cùng là đa dạng hóa.
Điều đơn giản là không có một doanh nghiệp nào tồn tại vĩnh cửu nếu doanh nghiệp đó không xác định được mục đích và mục tiêu hoạt động. Hoạt động của các DNQLKTCTCĐ chỉ có hiệu quả nếu như kế hoạch của doanh nghiệp găn bó chặt chẽ mục tiêu để cho phép đạt được những mục đích. Kế hoạch đó đòi hỏi phải được điều chỉnh kịp thời theo những biến đổi khách quan của môi trường, đồng thời gắn bó với những khả năng cho phép của doanh nghiệp như vốn, lao động, công nghệ.Từ những kế hoạch đó sẽ tạo cho DNQLKTCTCĐ một cơ cấu tổ chức hợp lý, xác định cụ thể nhiệm vụ cho từng biên QLĐVKT s l3 chế. Có như vậy mới có thể là cơ sở đảm bảo cho việc đạt được những mục đích của doanh nghiệp.
Mục đích của doanh nghiệp quản lý khái thác công trình cầu đường: Mục đích của doanh nghiệp thể hiện khuynh hướng tổn tại, phát triển của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp nói chung và các DNQLKTCTCPĐ nói riêng thường có ba mục đích chủ yếu sau: - Mục đích kinh tế: Thu lợi nhuận. Đây là mục đích quan trọng hàng đầu của các doanh nghiệp hoạt động SXKD. - Mục đích xã hội: Cung cấp sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Đây vừa là mục đích vùa là nghĩa vụ của mọi doanh nghiệp. Riêng các doanh nghiệp có hoạt động công ích như các DNQLKTCTCPĐ thì đây là mục đích hàng đầu. - Mục đích thỏa mãn các nhu câu cụ thể và đa dạng của mọi người tham gìa hoạt động trong doanh nghiệp.