CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CỐ VẤN HỌC TẬP TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Ngoài nước Học chế tín chỉ ra đời vào năm 1872 tại trường ĐH Harvard, Hoa Kỳ. Sau đó không lâu nó được giới thiệu ra toàn nước Mỹ và từ đầu thế kỷ XX đã được áp dụng ở Canada và một số nước khác trên thế giới.
Vào năm 1999, 29 bộ trưởng đặc trách giáo dục ĐH ở các nước trong Liên minh châu Âu đã ký Tuyên ngôn Boglona nhằm hình thành Không gian Giáo dục đại học Châu Âu thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dung quan trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng HCTC trong toàn hệ thống GDĐH để tạo thuận lợi cho việc cơ động hóa, liên thông hoạt động học tập của SV trong khu vực châu Âu và trên thế giới [39]. Có nhiều hình thức hỗ trợ người học rất đa dạng, trực tiếp cũng như gián tiếp, trong chính khóa cũng như trong các chương trình ngoại khóa, trong trường lớp cũng như ngoài lớp học, qua đội ngũ giảng viên cũng như qua các đội ngũ hỗ trợ khác, trong đó có việc các trường thành lập đội ngũ CVHT. Đội ngũ tư vấn, CVHT ở các trường ĐH tại một số nước tiên tiến, đặc biệt ở Hoa Kỳ và các nước Tây Âu, thường rất phong phú, đa dạng với các chức danh và nhiệm vụ sau đây: Cố vấn học tập (academic adviser): Thường tư vấn cho SV về chọn khóa học, ngành học phù hợp với năng lực và sở thích của SV, tư vấn và xét duyệt kế hoạch học tập của SV, trong đó có việc tăng giảm môn học, chọn ngành đào tạo chính, phụ. Họ nắm rất rõ chương trình đào tạo, cấu trúc và nội dung chương trình học, trình tự hợp lý các môn học, danh mục các môn học bắt buộc cũng như tự chọn phù hợp với từng định hướng đầu ra khác nhau trong HCTC, kể cả thực tập chuyên môn,.
để tư vấn cho SV khi bắt đầu nhập học, chuẩn bị vào giai đoạn chuyên ngành hay khi sắp kết thúc chương trình học, học thêm văn bằng 2, học sau ĐH. Người tư vấn hướng nghiệp (career adviser): Giúp SV tìm hiểu cơ hội nghề nghiệp và việc học tập tiếp theo, hướng chuyên ngành hẹp sau ĐH. Họ thường am hiểu về các yêu cầu 12 của thị trường lao động đối với ngành nghề, có quan hệ với các hiệp hội ngành nghề, nắm bắt thông tin cập nhật về kinh tế, xã hội… Cố vấn hoạt động ngoại khóa (extracurricular adviser): Thường tư vấn cho nhóm SV đặc biệt cho các tân SV. Các trường ĐH ở Hoa Kỳ thường có các buổi giới thiệu hướng dẫn cho tân SV vào tuần đầu tiên khi SV nhập học, dẫn họ đi tham quan trường học, cơ sở vật chất của trường và hướng dẫn cách sử dụng các trang thiết bị học tập, nơi tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho SV.
Trợ giảng (Tutor/Teaching assistant): Học viên cao học hay nghiên cứu sinh, những người đang làm phụ tá hay hỗ trợ các giáo sư trong NCKH ở nhiều trường ĐH các nước tiên tiến cũng thường được tập huấn để kiêm nhiệm công tác làm trợ giảng (giảng dạy một phần, tổ chức thảo luận, thực hành, làm bài tập, thí nghiệm…), giúp họ đóng vai trợ giảng hay cố vấn hiệu quả, đồng thời vẫn hoàn tất tốt luận văn, luận án của mình. Điều phối viên (Coordinator): Ở các trường ĐH Bỉ và một số trường ĐH ở châu Âu khác, nhất là trong các chương trình đào tạo quốc tế, người điều phối chương trình có một số tiết lên lớp hàng tuần để gặp gỡ tiếp xúc SV, giới thiệu về chương trình đào tạo, quy trình làm nghiên cứu, GD ý thức tránh đạo văn, cách trích dẫn khi nghiên cứu, viết bài, tìm tài liệu trên các thư viện, kể cả thư viện điện tử, mời học viên cao học hay nghiên cứu sinh đến trình bày các hướng nghiên cứu sau ĐH hay chuyên sâu để SV có thể định hướng nghề nghiệp hay học tiếp. Người đôn đốc học tập (Promotor): Người này có nhiệm vụ theo dõi quá trình học tập của SV, đôn đốc SV, học viên cao học đẩy nhanh tiến độ học tập theo kế hoạch định ra và tư vấn giúp họ tháo gỡ một số vướng mắc có thể gặp trong quá trình học tập. Trợ lý giáo vụ, trợ lý khoa/bộ môn (Academic assistant, faculty assistant): Ở các trường ĐH Anh quốc, Singapore … trợ lý khoa thường là những người có nhiều kinh nghiệm về chương trình đào tạo, cách thức tổ chức chương trình học, hình thức học tập và kiểm tra, đánh giá ở ĐH, biết cách phối hợp tốt với các phòng ban của trường thường có thể tiếp SV vào bất kỳ lúc nào trong giờ hành chánh.
Giáo viên chủ nhiệm lớp/nhóm (Dozent-in-charge hay teacher-in-charge): Đối với một số nhóm SV nước ngoài cố định học theo lớp dành riêng (như ở Pháp, Đức), giáo viên chủ nhiệm được phân công theo dõi hoạt động học tập của nhóm SV và gặp gỡ định kỳ nhóm SV này, tư vấn cho họ về việc học chuyên môn cũng như học ngoại ngữ, và các vấn đề có liên quan đến học tập khác [21, tr. 13 Đội ngũ tư vấn, CVHT trường ĐH các nước tiên tiến kể trên đa dạng, phong phú, ngoài kinh nghiệm chuyên môn, họ còn được cử đi tập huấn về công tác tư vấn, tham vấn học tập, quản lý học vụ,…giúp sinh viên học theo HCTC và sinh viên quốc tế trong thời hội nhập khá hiệu quả. Cuối thế kỷ XIX ở Mỹ, với sự gia tăng nhanh chóng của các trường ĐH làm xuất hiện các nhóm tư vấn để hướng dẫn SV nhằm đảm bảo chất lượng GD [46]. Sự đa dạng của các ngành nghề khác nhau cùng cơ hội và lợi thế của từng lĩnh vực dẫn đến ý tưởng của tư vấn và tư vấn trong môi trường ĐH [49].
Cuối những năm 1970, tư vấn cho sinh viên nhận được sự tín nhiệm lớn của sinh viên và được coi như một nghề. Một sự kiện quan trọng nhất của thời gian này là sự hình thành của Hiệp hội Tư vấn Quốc gia (NACADA) ở Mỹ vào năm 1979. Habley đã mô tả thời kỳ này như: “một sự đột biến đáng kể trong lĩnh vực tư vấn học tập” [47, p. Trong nước Cố vấn học tập là thuật ngữ mới xuất hiện trong đào tạo theo HCTC.
Công tác cố vấn học tập có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học nói riêng, chất lượng giáo dục ở bậc ĐH nói chung. Thông qua công tác tư vấn, người cố vấn học tập vừa hướng dẫn và cung cấp thông tin vừa đồng hành, hỗ trợ sinh viên trong học tập và rèn luyện. Khi đề cập đến công tác cố vấn học tập (nhiều trường ĐH Việt Nam sử dụng các tên gọi khác nhau cho vị trí cố vấn học tập như tư vấn học tập/giáo viên chủ nhiệm/trợ lý sinh viên) ở trường ĐH đã có một số tài liệu, công trình nghiên cứu, hội thảo tìm hiểu, phân tích, có thể kể đến các công trình, tác giả sau: - Bài viết của tác giả Mai Sơn Nam (2010) trên Tạp chí Giáo dục số 234: “Cố vấn học tập trong đào tạo tín chỉ” đề cập tới sự cần thiết phải xây dựng đội ngũ CVHT, tới chức danh và nhiệm vụ của CVHT ở trường ĐH. - Từ tháng 3 đến tháng 5/2011, Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG Hà Nội tổ chức cuộc thi: “Nghiệp vụ cố vấn học tập” với chủ đề: “Đồng hành – trách nhiệm – sáng tạo” với 14 đội tham gia cùng 61 CVHT.
Cuộc thi đã mang lại ý nghĩa thiết thực cho giảng viên và SV đang theo học HCTC ở các trường ĐH. Bằng hình thức sân khấu hóa, các thầy cô là CVHT lên sân khấu thuyết trình về vai trò của mình, trả lời các tình huống mà sinh viên đặt ra, đồng thời giới thiệu về ngành học để SV hiểu rõ hơn ngành nghề đang theo đuổi. Sinh 14 viên được tham gia đánh giá giờ giảng của thầy cô một cách công khai và chấm điểm hoạt động của các CVHT. - Tháng 6/2011, Đại học Cần Thơ tổ chức hội nghị: “Nâng cao vai trò cố vấn học tập” với mục đích tạo cơ hội để CVHT và sinh viên nêu được những ưu điểm, những khó khăn, vướng mắc và đề xuất những mong đợi, hướng giải pháp trong công tác CVHT.
Qua đó, nhà trường tìm ra những giải pháp để phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, đề ra quy định phù hợp sao cho công tác CVHT ngày càng hoàn thiện. - Tháng 8/2011, Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG Tp.HCM tổ chức khóa tập huấn: “Công tác tư vấn học tập và quản lý học vụ” nhằm xem xét hoạt động của đội ngũ CVHT sau một khóa đào tạo, nhận diện những thành tựu cũng như những hạn chế, nhược điểm, qua đó tìm biện pháp tháo gỡ để nâng chất hoạt động của đội ngũ CVHT. - Ngày 28/11/2012, Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội đã tổ chức hội thảo: “Nghiệp vụ cố vấn học tập” nhằm giúp giảng viên và SV nhận thức đúng đắn về vai trò của CVHT trong hoạt động đào tạo, các quy trình tư vấn cho SV trong việc lựa chọn chuyên ngành, đăng ký môn học, xây dựng kế hoạch học tập … và đóng góp ý kiến xây dựng các giải pháp, mô hình cho công tác CVHT. - Tác giả Nguyễn Văn Vân (2011) giới thiệu bài viết: “Một số nội dung về công tác CVHT theo HCTC” đã nêu lên sự cần thiết phải có CVHT trong HCTC; chức năng, nhiệm vụ, vị trí và cơ chế phối hợp của CVHT với các bộ phận khác trong trường ĐH; những tiêu chuẩn, điều kiện và quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm CVHT; những điều kiện và quyền lợi đối với CVHT… - Bài viết của tác giả Huỳnh Xuân Nhựt (2010): “Hướng dẫn xây dựng tư vấn học tập theo học chế tín chỉ” dành cho các trường ĐH khá chi tiết về việc hình thành tổ chức CVHT ở trường ĐH.
Trong các tài liệu này đã cơ bản đề cập khá chi tiết về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của người làm CVHT ở trường ĐH, các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động CVHT song chưa đi sâu phân tích về đội ngũ những người tham gia trực tiếp làm công tác CVHT ở trường ĐH. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học 1. Quản lý 15 Nhận thức của con người về quản lý rất đa dạng và phong phú.
Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa đồng thời do sự khác biệt của thời đại, chế độ xã hội, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều cách giải thích, cách hiểu khác nhau.