Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý di tích, lễ hội và khái quát về di tích, lễ hội lăng bà Chợ Được xã Bình Triều, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam Chương 2: Thực trạng công tác quản lý di tích và lễ hội lăng bà Chợ Được xã Bình Triều huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam Chương 3: Quan điểm, nguyên tắc và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích và lễ hội Lăng Bà Chợ Được, xã Bình Triều, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH, LỄ HỘI VÀ KHÁI QUÁT VỀ DI TÍCH, LỄ HỘI LĂNG BÀ CHỢ ĐƯỢC XÃ BÌNH TRIỀU, HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM 1. Một số vấn đề lý luận về quản lý di tích và lễ hội 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm di tích, di tích lịch sử - văn hóa Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học… Di tích là di sản văn hóa lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy” [ 59, tr. Tác giả Trần Quốc Vượng cho rằng: “Di tích là dấu vết, dấu tích của một công trình kiến trúc nào đó còn sót lại không nguyên vẹn từ thế kỷ 20 trở về trước, lùi sâu cho đến thời kỳ tiền sử, sơ sử” [43]. Từ hai khái niệm trên đây có thể nhận thấy trước hết di tích ra đời gắn với một thời kỳ lịch sử nhất định, trong quá trình tồn tại luôn có sự biến đổi theo thời gian vì vậy so với ban đầu di tích có thể đã bị biến đổi không còn nguyên vẹn tùy thuộc vào từng di tích cụ thể mà chúng có thể ở dạng này hay dạng khác. Di tích luôn gắn với không gian vật chất cụ thể không được tùy tiện chuyển dịch từ vị trí này sang vị trí khác hoặc tự ý thay đổi, chúng cần phải được bảo vệ bằng pháp luật.
Di tích lịch sử - văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, cảnh quan thiên nhiên, khu vực thiên nhiên có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ. Di tích lịch sử văn hóa là một thành tố quan trọng cấu thành nên di sản văn hóa, do đó cần được bảo vệ bằng pháp luật. Tại Điều 1 của Luật Hiến chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ được thông qua tại Đại hội quốc tế lần thứ hai, các kiến trúc sư và kỹ 12 thuật gia về di tích lịch sử họp tại Vinece (1964) được ICOMOS chấp nhận năm 1965 đã nêu ra: Di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử, khái niệm này không chỉ áp dụng đối với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã cùng thời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa [17, tr. Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2001 quy định: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [41].
Tại Khoản 1, Điều 28 của Luật Di sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa quy định [41]: Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; c) Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu; d) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật. Khái niệm lễ hội Lễ hội là một loại hình nghệ thuật có tính văn hóa, phản ánh tín ngưỡng và sinh hoạt của con người, là những gì mà con người đã sáng tạo ra trong quá trình sống, tồn tại và phát triển.Granet: “ Những hội vui hòa của 13 nông dân ấy cũng là những cuộc lễ hôn thú, những hội sinh nở; đánh dấu thời kỳ trong công việc đồng áng khánh thành kết quả sắp tới, kỷ niệm sự thành công đã qua, đây cũng còn là những đại hội nông nghiệp…nó đột nhiên giựt những cá nhân khỏi đời sống buồn tẻ lẻ loi… Nó kích thích đến cùng độ sự hoạt động sáng tạo của đời sống bên trong”. Tác giả Đinh Gia Khánh đã đưa ra quan điểm phân loại lễ hội như sau: “Có nhiều cách phân loại lễ hội. Cách phân loại đơn giản nhất là chia hội lễ thành hội lễ không có nguồn gốc tôn giáo và hội lễ có nguồn gốc tôn giáo.
Hội lễ mà nguồn gốc vốn không phải là tôn giáo vốn có từ rất lâu. Thí dụ như: Hội lễ nguyên thủy gắn với nghi thức phồn thực, với sản xuất nông nghiệp. Hội lễ tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia thành giai cấp và tôn giáo ra đời (Bà la môn giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo…” [33] Cũng theo giáo sư Đinh Gia Khánh, “Lễ hội là hiện tượng văn hóa dân gian đáp ứng nhu cầu tinh thần-tình cảm không thể thiếu được trong đời sống nhân dân các dân tộc trên thế giới cũng như ở nước ta. Lễ hội là một hiện tượng lịch sử, một hình thức văn hóa sinh động, văn hóa, tụ hội nhiều mối quan hệ cộng đồng làng xã của dân tộc Việt Nam.
Nảy sinh và bén rễ từ sinh hoạt văn hóa làng quê xưa, nhân tố cổ truyền của nền văn minh nông nghiệp ấy không ngừng vận động, biến thiên, bồi đắp theo tiến trình lịch sử văn hóa, trở thành một đối tượng hấp dẫn đáp ứng được nhu cấu của con người qua các thời đại" [33]. Dựa vào các ý kiến này, Ngô Đức Thịnh đưa ra nhận định chung về lễ hội. “Từ nhiều năm nay, giới nghiên cứu lễ hội nước ta, từ nhiều góc độ khác nhau, cố gắng đưa ra một cách phân loại lễ hội sao cho thỏa đáng nhất. Trước hết người ta căn cứ vào nội dung phản ánh để chia đây là lễ hội nông nghiệp, kia là lễ hội anh hùng lịch sử, còn kia là lễ hội tôn giáo, tín ngưỡng… căn cứ vào phạm vi to nhỏ để phân biệt đâu là hội làng, hội vùng và hội của cả 14 nước… rồi lại căn cứ vào thời gian mở hội để chia ra lễ hội mùa xuân, lễ hội mùa thu, hay nơi tổ chức ở chùa, đền, đình…cách phân chia nào cũng hợp lý, nhưng cũng không tránh được những chồng chéo, bất hợp lý của nó [53].
Chính vì vậy, xét về mặt thời gian, lễ hội cũng có thời gian từ xưa cùng tồn tại với con người và được con người quan tâm tìm hiểu từ rất sớm. Cội nguồn sâu xa bắt nguồn từ những tín ngưỡng dân gian nguyên thủy, trải qua quá trình hội nhập, giao lưu, tiếp biến lễ hội được hình thành và định hình như ngày hôm nay. Cho nên từ tâm thức này đã ảnh hưởng trong các lễ hội văn hóa và luôn có sự giao thoa, vận dụng giữa các vùng miền nói chung. Lễ hội Bà Chợ Được-Thăng Bình nói riêng được thể hiện qua loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian - rước cộ trong Lễ hội Bà Chợ Được, Bình Triều, Thăng Bình, Quảng Nam.
Lễ và hội, cả hai khái niệm đều có nguồn gốc từ chữ Hán. Lễ và hội là hai phạm trù hợp nhất thành một sinh hoạt văn hóa cộng đồng hoàn chỉnh, hợp nhất, không hoàn toàn tách rời. Lễ: là theo cái khuôn mẫu của người đã qua định các phép tắc: Từ quan, hôn, tang, tế cho đến cách đi đứng, nói năng đều có khuôn phép nhất định. Thuật ngữ “Lễ” được hiểu một cách khái quát là phần nghi thức bắt buộc trong những dịp hội hè, đình đám.
Lễ trong hội biểu hiện lòng tôn kính của cộng đồng với các vị thánh. Đây là dịp để họ dâng lên vị thần những sản vật làm ra với lòng kính trọng, biết ơn sự bảo trì của thần linh đã giúp cho họ làm ăn phát đạt, thịnh vượng. Sự tôn kính, trang nghiêm, linh thiêng của tế lễ đã tác động vào tâm thức tâm linh của con người làm giàu thêm cuộc sống tinh thần, làm đẹp hơn, tốt hơn các mối quan hệ tình cảm giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, con người với tự nhiên xã hội. Cho nên tính ưu việt trong tế lễ là thước đo của các giá trị chuẩn mực đạo đức truyền thống, chuẩn mực đạo đức trong miên trường sinh hóa mà văn hóa dân 15 gian- nền văn hóa lấy đối tượng là con người gắn với cuộc sống trần thế làm mục đích, làm mục tiêu thực thể nhằm hướng tới cái đích vĩnh hằng đó là: Chân, thiện, mỹ.
Lễ trong hội không đơn lẻ, mà nó được cấu thành một hệ thống liên kết chặt chẽ có trật tự, có tính quy phạm nghiêm ngặt cùng bổ trợ cho nhau. Chính sự trật tự là hình thức, nội dung của lễ, lễ mang tính thiêng liêng và đóng vai trò chủ đạo của lễ hội. Lễ không phải là sự mê tín dị đoan theo như một số người đã quan niệm, mà thực chất lễ được hiểu là một tín ngưỡng, là đức tin - là thế ứng xử một cách thông minh, tôn kính, chứa đậm chất văn hóa phi vật thể của con người đối với sức mạnh vô hình hoặc hữu hình mà chính tự bản thân họ cũng như cộng đồng không thể lý giải được. Hội: Là dịp gặp nhau để cùng trao đổi, bàn bạc hoặc làm một sự việc gì.
Do đó, thuật ngữ “hội” được hiểu là một thể loại sinh hoạt dân giã, phóng khoáng, thường diễn ra trên sân, bãi, sàn.để cộng đồng dân làng vui chơi với các trò chơi hấp dẫn do chính họ tham gia, nên thường mang tính xã hội hóa cao. Chính phần hội, đã tạo cho mọi người tham gia luôn có được sự hưng phấn, có cảm giác như lấy được cái “may”, các “ khước” mà chỉ ở hội mới có được.