Luận án về quản lý dạy học môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở tại Hà Nội theo tiếp cận hợp tác

Luận án nghiên cứu quản lý dạy học môn ngữ văn tại các trường trung học cơ sở ở Hà Nội theo tiếp cận hợp tác, nâng cao chất lượng giáo dục.

Trường đại học

Trường Trung Học Cơ Sở Hà Nội

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2019

275
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Những công trình nghiên cứu về dạy học theo tiếp cận hợp tác

1.2. Những công trình nghiên cứu về quản lý dạy học môn Ngữ văn theo tiếp cận hợp tác

1.3. Giá trị của các công trình nghiên cứu đã tổng quan và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO TIẾP CẬN HỢP TÁC

2.1. Những vấn đề lý luận về dạy học môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở theo tiếp cận hợp tác

2.2. Những vấn đề lý luận về quản lý dạy học môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở theo tiếp cận hợp tác

2.3. Những yếu tố tác động đến quản lý dạy học môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở theo tiếp cận hợp tác

3. CHƯƠNG 3: CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO TIẾP CẬN HỢP TÁC

3.1. Khái quát về giáo dục trung học cơ sở thành phố Hà Nội

3.2. Tổ chức khảo sát đánh giá thực trạng

3.3. Thực trạng dạy học môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội theo tiếp cận hợp tác

3.4. Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội theo tiếp cận hợp tác

3.5. Thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến quản lý dạy học môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội theo tiếp cận hợp tác

3.6. Đánh giá chung về thực trạng và nguyên nhân của thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội theo tiếp cận hợp tác

4. CHƯƠNG 4: BIỆN PHÁP VÀ KIỂM CHỨNG CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO TIẾP CẬN HỢP TÁC

4.1. Các biện pháp quản lý dạy học môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội theo tiếp cận hợp tác

4.2. Khảo nghiệm và thử nghiệm các biện pháp đề xuất

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý dạy học Ngữ văn tại Hà Nội

Quản lý dạy học Ngữ văn tại các trường trung học cơ sở ở Hà Nội đang trở thành một vấn đề quan trọng trong bối cảnh giáo dục hiện đại. Việc áp dụng các phương pháp dạy học hợp tác không chỉ giúp nâng cao chất lượng giáo dục mà còn phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh. Theo nghiên cứu, việc quản lý hiệu quả hoạt động dạy học môn Ngữ văn có thể tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích học sinh tham gia và phát triển toàn diện.

1.1. Định nghĩa quản lý dạy học Ngữ văn

Quản lý dạy học Ngữ văn là quá trình tổ chức, điều hành và giám sát các hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Điều này bao gồm việc xây dựng kế hoạch giảng dạy, lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp và đánh giá kết quả học tập của học sinh.

1.2. Vai trò của Ngữ văn trong giáo dục

Môn Ngữ văn không chỉ cung cấp kiến thức về ngôn ngữ và văn học mà còn giúp học sinh phát triển tư duy phản biện, khả năng giao tiếp và cảm nhận văn hóa. Đây là nền tảng quan trọng cho sự phát triển nhân cách và trí tuệ của học sinh.

II. Thách thức trong quản lý dạy học Ngữ văn hiện nay

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc cải thiện chất lượng dạy học Ngữ văn, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hụt về phương pháp dạy học hiện đại và sự chưa đồng bộ trong quản lý. Điều này dẫn đến việc học sinh không phát huy được hết tiềm năng của mình trong quá trình học tập.

2.1. Thiếu hụt phương pháp dạy học hiện đại

Nhiều giáo viên vẫn sử dụng phương pháp dạy học truyền thống, dẫn đến việc học sinh không hứng thú và không phát triển được kỹ năng cần thiết. Việc áp dụng phương pháp dạy học hợp tác là cần thiết để khắc phục tình trạng này.

2.2. Sự chưa đồng bộ trong quản lý

Quản lý dạy học Ngữ văn tại các trường THCS thường thiếu sự đồng bộ giữa các cấp quản lý, dẫn đến việc thực hiện các chính sách giáo dục không hiệu quả. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng giáo dục và các trường để nâng cao chất lượng dạy học.

III. Phương pháp dạy học Ngữ văn theo tiếp cận hợp tác

Phương pháp dạy học hợp tác đã được chứng minh là hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Phương pháp này khuyến khích học sinh làm việc nhóm, chia sẻ kiến thức và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình học tập. Việc áp dụng phương pháp này trong dạy học Ngữ văn sẽ giúp học sinh phát triển kỹ năng giao tiếp và tư duy phản biện.

3.1. Cách thức tổ chức dạy học hợp tác

Dạy học hợp tác yêu cầu giáo viên phải thiết kế các hoạt động học tập mà trong đó học sinh có thể làm việc nhóm, thảo luận và chia sẻ ý tưởng. Điều này không chỉ giúp học sinh hiểu bài tốt hơn mà còn phát triển kỹ năng xã hội.

3.2. Lợi ích của dạy học hợp tác

Dạy học hợp tác giúp học sinh phát triển nhiều kỹ năng quan trọng như kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm và tư duy phản biện. Học sinh cũng sẽ cảm thấy tự tin hơn khi tham gia vào các hoạt động học tập.

IV. Ứng dụng thực tiễn của quản lý dạy học Ngữ văn

Việc áp dụng các biện pháp quản lý dạy học Ngữ văn theo tiếp cận hợp tác đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Các trường trung học cơ sở tại Hà Nội đã bắt đầu triển khai các chương trình đào tạo cho giáo viên nhằm nâng cao kỹ năng dạy học hợp tác. Kết quả khảo sát cho thấy học sinh có sự tiến bộ rõ rệt trong việc tiếp thu kiến thức và phát triển kỹ năng.

4.1. Kết quả khảo sát thực trạng dạy học

Khảo sát cho thấy rằng việc áp dụng phương pháp dạy học hợp tác đã giúp học sinh cải thiện đáng kể trong việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng giao tiếp. Học sinh cảm thấy hứng thú hơn với môn học và có khả năng làm việc nhóm tốt hơn.

4.2. Đánh giá hiệu quả quản lý dạy học

Đánh giá từ giáo viên và học sinh cho thấy rằng việc quản lý dạy học Ngữ văn theo tiếp cận hợp tác đã tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích sự sáng tạo và chủ động của học sinh.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Quản lý dạy học Ngữ văn tại các trường trung học cơ sở ở Hà Nội cần tiếp tục được cải thiện và đổi mới. Việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại, đặc biệt là dạy học hợp tác, sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục. Cần có sự đầu tư và hỗ trợ từ các cấp quản lý để đảm bảo rằng giáo viên và học sinh đều có đủ điều kiện để phát triển.

5.1. Đề xuất các biện pháp cải tiến

Cần xây dựng các chương trình đào tạo cho giáo viên về phương pháp dạy học hợp tác, đồng thời tạo điều kiện cho học sinh tham gia vào các hoạt động học tập phong phú và đa dạng.

5.2. Tương lai của dạy học Ngữ văn

Tương lai của dạy học Ngữ văn sẽ phụ thuộc vào khả năng áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại và sự hỗ trợ từ các cấp quản lý. Việc phát triển năng lực cho học sinh sẽ là mục tiêu hàng đầu trong giáo dục.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Những công trình nghiên cứu về dạy học theo tiếp cận hợp tác 1. Những công trình nghiên cứu trên thế giới Từ thế kỷ XVIII, lý thuyết về học tập hợp tác đã thực hiện khá phổ biến ở các nước tư bản. Thời kỳ này có 2 tác giả Joseph Lancaster và Andrew Bell đã thực nghiệm và triển khai rộng rãi việc học tập hợp tác nhóm ở Anh quốc.

Và vào khoảng cuối thế kỷ XIX ở Mỹ đã đề cao học tập hợp tác, điển hình có Fancis Parker, hiệu trưởng một trường công ở bang Massachusetts đã đưa ra các quan niệm nhằm biện hộ cho lý thuyết học tập hợp tác, phản đối kiểu học tập cạnh tranh mang màu sắc của xã hội tư bản. Theo Fancis Parker nếu quá trình học tập được thực hiện trên tinh thần chia sẻ nhóm, lớp với cả tình cảm và trí tuệ thì việc học sẽ không bao giờ bị nhàm chán; niềm vui lớn nhất của học sinh là cùng nhau chia sẻ thành quả học tập với các bạn trong tương tác học tập với tinh thần giúp đỡ lẫn nhau. Cuối thế kỷ XIX, DHHT được bắt đầu nghiên cứu và ứng dụng ở Mỹ tiêu biểu là công trình của Francis Parker. Trong các nghiên cứu của mình ông cho rằng: Nếu lớp học được tổ chức sao cho quá trình học tập được thực hiện trên tinh thần của sự chia sẻ ở các nhóm, với tất cả tình cảm và trí tuệ thì việc học không bao giờ trở thành một công việc nặng nhọc, nhàm chán; học sinh sẽ phát triển đầy đủ khả năng của mình chỉ khi việc học tập mang tính chất chia sẻ được khuyến khích.

16 John Dewey đã có những nghiên cứu và thực nghiệm DHHT trong thực tiễn dạy học. Kết quả nghiên cứu của ông đã chỉ ra rằng nếu con người muốn học cách sống hợp tác với người khác, họ phải trải nghiệm quá trình sống hợp tác trong nhà trường. Cuộc sống ở lớp học phải là hiện thân của sự dân chủ, không chỉ trong việc học sinh tự do lựa chọn cách học và thực hiện các dự án học tập cùng nhau mà cả trong việc các em học cách quan hệ với người khác. Nhà trường phải tổ chức dưới một cộng đồng mang tính chất hợp tác, nhiệt tình giao tiếp và tính cách dân chủ cho trẻ được bồi dưỡng và phát huy.

Albert Bandura đã đưa ra thuyết học tập mang tính xã hội. Ông cho rằng khi các cá nhân làm việc cùng nhau hướng tới mục tiêu chung thì sự phục thuộc lẫn nhau thúc đẩy họ hoạt động thành công. Đồng thời nhóm phải tìm cách giúp đỡ những thành viên trong nhóm mình để cùng nhau đạt mục đích chung. Thuyết này được áp dụng rộng rãi trong nhà trường và đã chứng tỏ các mô hình học tập hợp tác được xây dựng trên thuyết học tập mang tính xã hội đem lại kết quả cao hơn các cách học truyền thống.

Phương pháp này được áp dụng rộng rãi trong các nhà trường và lôi cuốn cả học sinh, giáo viên, đem lại chất lượng và hiệu quả cao trong các giờ học. Theo chỉ dẫn của các tác giả, khi vận dụng phương pháp này, giáo viên phân chia học sinh thành những nhóm nhỏ. Mọi người trong nhóm vừa là người dạy vừa là người học. Giáo viên chủ yếu trong vai trò trợ giúp, cố vấn, làm mẫu khi cần thiết.

Học sinh trong vai trò người dạy sẽ đặt câu hỏi, nêu vấn đề học tập và kết luận các nội dung học tập cho nhóm của mình. Các học sinh khác của nhóm tham gia thảo luận bằng cách nêu ra các câu hỏi, bình luận các ý kiến trả lời. Vai trò của các thành viên luôn được thay đổi trong quá trình học tập. Kết thúc mỗi 17 giờ học các nhóm nhận xét về hoạt động học tập của nhóm mình, đưa ra những kiến nghị cho giờ học tiếp theo [Dẫn theo 87].

Johnson và Roger T. Johnson (1975), Học cùng nhau và học độc lập; học hợp tác tranh đua và học cá nhân [13], đã đi sâu nghiên cứu bản chất, đặc điểm và các yếu tố trong cấu trúc học tập hợp tác. Các tác giả cho rằng DHHT có vai trò to lớn trong dạy học, trong xây dựng mối quan hệ bè bạn, tăng cường động cơ học tập, tăng cường trao đổi thông tin, phát triển năng lực tư duy, phát triển các kỹ năng xã hội. Cùng với việc đề cao vai trò DHHT, các tác giả phê phán việc tổ chức học tập theo kiểu cá nhân và học tranh đua không phù hợp.

Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng DHHT là kiểu dạy học ưu việt so với kiểu dạy học truyền thống. Jean Piaget với học thuyết “Sự giải quyết mâu thuẫn” [79] cho rằng: Để thúc đầy sự phát triển trí tuệ cho học sinh, giáo viên sắp đặt từng cặp học sinh có quan điểm đối lập với nhau về cách giải quyết vấn đề thành một nhóm và yêu cầu từng cặp hai em này hoạt động cùng nhau cho đến khi nhất trí hoặc có câu trả lời chung thì khi đó mới đi đến kết luận về bài học. Sau khi các em thống nhất, giáo viên kiểm tra riêng từng em và luôn thấy rằng những em lúc đầu còn kém cỏi về một vấn đề nào đó thì bây giờ có thể tự mình giải quyết một cách đúng đắn, không khác với cách giải quyết của bạn mình. Vào những năm 1980 trở lại đây, việc nghiên cứu về DHHT đã được tiếp tục đẩy mạnh ở các nước Tây Âu.

Các nghiên cứu này hướng vào xây dựng mô hình và chiến lược dạy học theo nhóm hợp tác một cách có hiệu quả. Chúng ta có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu như Brown và Palincar năm 1989 [100], Renkl năm 1995 [102] và Rosenshine, Meister năm 1994 [103]. Các tác giả cho rằng DHHT tạo lập và cải thiện những mối quan hệ xã hội giữa các thành viên, với những đặc thù xã hội và phẩm chất cá nhân. 18 Romiszowski (1981) chia kỹ năng theo tiếp cận hợp tác thành 7 nhóm: Kỹ năng biểu đạt thái độ, tình cảm; kỹ năng tìm kiếm và cung cấp thông tin; kỹ năng đề nghị; kỹ năng duy trì và mở rộng thông tin; kỹ năng dẫn dắt và ngăn cản; kỹ năng thể hiện quan điểm và kỹ năng khái quát.

Ở các nước xã hội chủ nghĩa, tập thể luôn được xem là môi trường để thực hiện mục tiêu giáo dục con người phát triển toàn diện. Mác khẳng định: “Chỉ có trong cộng đồng cá nhân mới có được những phương tiện để phát triển toàn diện những năng khiếu của mình và do đó, chỉ có trong cộng đồng mới có tự do cá nhân” [10, tr. Trong cuốn sách (2000), Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác [62], các tác giả Jean – Marc Denomme và Madeleine Roy đã xây dựng phương pháp sư phạm dựa trên mối quan hệ giữa các nhân tố chính trong hoạt động sư phạm là người học, người dạy và môi trường. Các ông cho rằng người học (học sinh) với tư cách là một tác nhân trong sư phạm tương tác phải có hứng thú trong học tập, phải tích cực tham gia vào quá trình học tập bằng tất cả khả năng, tri thức và kinh nghiệm của mình.

Người học hợp tác với nhau trong học tập dưới sự hướng dẫn của người dạy. Người dạy bằng kiến thức, kinh nghiệm của mình chịu trách nhiệm hướng dẫn người học trong quá trình học tập, chức năng chính của người dạy là giúp đỡ người học, phục vụ người học, hợp tác với người học, làm việc với người học, người dạy phải chỉ ra cái đích cho người học giúp đỡ, động viên người học đạt đến mục đích học tập đã xác định. Môi trường là tác nhân có vai trò quan trọng, người dạy và người học phải có ý thức xây dựng môi trường, đảm bảo cho mỗi lớp học và người học thuận lợi cả về không gian, vật chất cũng như không gian về tâm lý, thời gian, âm thanh và ánh sáng. 19 Các công trình nghiên cứu của các tác giả như Devries.

ở trung tâm tổ chức xã hội, các trường học đã kết hợp học hợp tác nhóm, tranh đua giữa các nhóm và các trò chơi học tập vận dụng vào thực tiễn hoạt động trong lớp học; E. Cohen đã xây dựng một phương pháp học tập hợp tác dựa trên những lý thuyết, những phát biểu mong đợi. Glasser đã nghiên cứu thúc đẩy việc sử dụng các mối quan hệ hợp tác giữa học sinh với nhau. Những nghiên cứu trên cũng như các công trình khác của các nhà nghiên cứu giáo dục, khoa học xã hội ở Mỹ, Canada… đã tiên phong trong việc nghiên cứu và triển khai các bài học, chương trình, chiến lược và kỹ năng DHHT.

Raja Roy Singh, nhà giáo dục của Ấn Độ trong cuốn sách, Nền giáo dục cho thế kỷ XXI: Những triển vọng của Châu Á - Thái Bình Dương [76], tác giả đã đề cập tới nhiều nội dung cho giáo dục thế kỷ XXI, song vấn đề cần tập trung hơn cả về giáo dục con người là hình thành cho họ năng lực sáng tạo, có kỹ năng hợp tác chung sống với người khác, biết gắn bó con người với xã hội trong thế giới toàn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu rộng. Theo ông một trong những PPDH đạt tới mục tiêu trên, đó là mô hình DHHT, học tập từ bạn bè, từ cộng đồng, từ lao động và các hoạt động xã hội. Ông còn cho rằng: sự hoàn thiện của hoạt động học là sự chia sẻ, người ta càng học càng khát khao được chia sẻ… Học để đạt tới sự chắc chắn là để chuẩn bị cho sự chia sẻ. Bằng việc đánh giá cao vai trò của tập thể, các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: Giáo dục con người trong tập thể là một nguyên lý cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, nhiều nhà khoa học ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây đã đi sâu nghiên cứu về DHHT và áp dụng thành công trong thực tiễn giáo dục.

Trước tiên có thể kể tới công trình nghiên cứu của nhà Tâm lý học Nga L. Vưgôtxki (1997), Tuyển tập tâm lý 20 [90], trong các tác phẩm nghiên cứu của mình ông chỉ rõ tầm quan trọng trong việc tương tác giữa người học với môi trường, giữa các học sinh với nhau và sự hợp tác với giáo viên. Ông nhận định dạy học phải tạo cơ hội cho học sinh hòa nhập vào môi trường văn hóa để cho học sinh có cơ hội lĩnh hội kiến thức và kinh nghiệm từ môi trường văn hóa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ