đặt vấn đề nghiên cứu pháp QL hoạt động dạy học Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống TLVM ở trường THCS Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội. Từ đó đề ra các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống TLVM nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số khái niệm cơ bản về quản lý 1.
Quản lý Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người xét trên nhiều phạm vi cá nhân, tập đoàn, quốc gia hoặc nhóm quốc gia. Hoạt động quản lý (QL) xuất hiện khi loài người hình thành hoạt động nhóm. Qua lao động, để duy trì sự sống, đòi hỏi sự phối hợp hoạt động giữa cá nhân con người. Hoạt động QL là một hiện tượng tất yếu phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người nhằm đoàn kết lại tạo nên sức mạnh tập thể, thống nhất thực hiện một mục đích chung.
Từ thời thượng cổ, trung cổ đến thời hiện đại, trải qua hàng nghìn năm lịch sử phát triển hoạt động QL đã có những phát triển và trở thành bộ môn khoa học quản lý.Mac đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều đều cần đến một sự chỉ đạo điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của các khí quan độc lập với nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.Mác đã nói lên được bản chất của quản lý là hoạt động lao động để điều khiển quá trình lao động, một hoạt động tất yếu của loài người.Taylor - người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp nhất các công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao động - cho rằng cốt lõi trong QL là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và phải quản lý chặt chẽ”, “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”. Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.
327] Ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều tác giả đưa ra những khái niệm về quản lý. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, quản lý là: “Quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đhóa và kiểm tra”. 9] Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “Quản lý là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”. 25] Trong quản lý có hai bộ phận khăng khít, đó là chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hay một nhóm người có chức năng quản lý hay điều khiển tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt tới mục tiêu. Khách thể quản lý bao gồm những người thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung. Như vậy, có thể nói QL là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, và được hiểu dưới những góc độ, quan điểm khác nhau. Nhưng dù ở lĩnh vực hay góc độ nào đi nữa thì, theo chúng tôi, QL cũng là sự tác động có định hướng, mang tính hệ thống, được thực hiện có ý thức, có tổ chức của chủ thể QL lên đối tượng QL, bằng cách vạch ra mục tiêu của tổ chức, đồng thời tìm kiếm các biện pháp, cách thức tác động vào tổ chức nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Nhưng sự tác động của quản lý phải bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội. Quản lý giáo dục và chức năng quản lý giáo dục 1. Quản lý giáo dục Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người, từ thế hệ trước cho thế hệ sau, thế hệ sau tiếp thu những kinh nghiệm xã hội đó và ngoài ra còn sáng tạo ra những kinh nghiệm mới làm giàu và phong phú thêm, bổ sung thêm cho kho tàng kiến thức của nhân loại, thúc đẩy xã hội loài người không ngừng phát triển. Như vậy, giáo dục chính là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục, nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho họ.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý giáo dục là một chuyên ngành được phát triển trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung, cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm QLGD cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới khái niệm QLGD trong phạm vi quản lý một hệ thống GD nói chung mà hạt nhân của hệ thống QLGD. Trong cuốn “Cơ sở lý luận khoa học quản lý giáo dục”, M.Kôndakov viết: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh thì chúng ta không hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng chủ thể quản lý trên cơ sở các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên. 94 Theo tác giả Bush T.
(trong tác phẩm Theories of Education Management, PCP, London, 1995): “Quản lý giáo dục, một cách khái quát, là sự tác động có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt nhằm đạt mục tiêu đề ra”. Ở Việt Nam, QLGD cũng là lĩnh vực được nhiều nhà quan tâm nghiên cứu. Theo các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo thì: “Quản lý nhà nước về giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý mang quyền lực nhà nước (các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục), chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đề ra”. 114-115] Theo Đặng Xuân Hải, Nguyễn Sỹ Thư: Quản lý nhà nước về giáo dục là: “Sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động giáo dục và đào tạo do các cơ quan có trách nhiệm về quản lý giáo dục của Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng nhiệm vụ theo quy định của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo , duy trì kỉ cương, thỏa mãn nhu cầu được giáo dục và đào tạo của nhân dân, thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo của nhà nước”.
6] 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”. 31] Những khái niệm trên về QLGD tuy có những cách diễn đạt khác nhau nhưng tựu chung lại có thể hiểu là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động GD của từng cơ sở và toàn bộ hệ thống GD đạt tới mục tiêu. Tóm lại, QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của QLGD, trong đó đội ngũ GV và HS là đối tượng QL quan trọng nhất nhưng đồng thời là chủ thể trực tiếp QL quá trình giáo dục.
Chức năng quản lý giáo dục. Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý, là tập hợp các nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể QL phải tiến hành trong quá trình QL. Thông qua các chức năng QL, người ta xác định các khối lượng công việc cơ bản và trình tự tiến hành các công việc của quá trình QL. Trong mọi quá trình QL, người QL phải thực hiện một dãy chức năng kế tiếp nhau một cách lôgic, bắt buộc, bắt đầu từ việc xác định mục tiêu và nhiệm vụ QL đến khi kiểm tra các kết quả đạt được.
Qua nghiên cứu lý luận và thực tế của công tác QL nói chung ta có thể hiểu chức năng quản lý là một nội dung cơ bản của quá trình quản lý, là việc làm không thể thiếu được của chủ thể quản lý. Về số lượng các chức năng quản lý, hầu hết các tác giả đều đề cập tới bốn chức năng chủ yếu đó là: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và trong đó thông tin vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để thực hiện chức năng quản lý. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Chức năng kế hoạch hóa: Là hoạch định các công việc cần thực hiện một cách chủ động và khoa học.