Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Giáo dục mầm non là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò quan trọng trong việc hình thành những cơ sở nền tảng cho sự phát triển lâu dài về nhân cách của con người. Vì vậy, hầu hết các quốc gia và các tổ chức giáo dục quốc tế đều rất quan tâm đến công tác giáo dục mầm non; đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng GDMN.
Trong các tài liệu nghiên cứu về tư tưởng giáo dục của Khổng Tử đã chỉ ra, ông quan tâm, coi trọng phương pháp giáo dục, học là phải luyện tập thường xuyên thì mới giúp con người có những nét tính cách riêng “học mà cứ thường thường tập luyện thì trong bụng lại không thỏa thích hay sao?”. Và học phải đi đôi với luyện tập để trở thành thói quen, hình thành những nét tính cách ngay từ lúc nhỏ“tập được từ lúc nhỏ như thiên tính, thói quen như tự nhiên”. Ông muốn những nhà giáo dục phải thường xuyên tổ chức phương pháp luyện tập trong quá trình giáo dục con người. Spodek (1990) nhà giáo dục người Mỹ cho rằng người lớn chúng ta không thể quyết định dạy trẻ cái gì (nội dung) mà quên đi trẻ em học thế nào, bởi vì “học như thế nào” liên quan nhiều đến phương pháp.
Nội dung chương trình (học cái gì), các quá trình học (học như thế nào), các chiến lược giảng dạy (dạy như thế nào), môi trường (hoàn cảnh học) và các chiến lược đánh giá (cho biết việc học tập xảy ra như thế nào) là những vấn đề có quan hệ qua lại với nhau và tạo nên chương trình GDMN (Brekdekamp, 1992) Vào thời Khổng Tử, ông đã có phương pháp giáo dục, học là phải luyện tập thường xuyên thì mới giúp con người có những nét tính cách riêng “Học mà cứ thường thường tập luyện thì trong bụng lại không thỏa thích hay sao?” Và học Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn phải đi đôi với luyện tập để trở thành thói quen, hình thành những nét tính cách ngay từ lúc nhỏ “Tập được từ lúc nhỏ như thiên tính, thói quen như tự nhiên”. Với phương pháp này ông muốn những nhà giáo dục phải thường xuyên tổ chức phương pháp luyện tập trong quá trình giáo dục con người.S Vưgốtsky cho rằng trẻ em tự cấu trúc nhận thức của mình và ông tin vào khả năng bên trong của trẻ đối với việc học; tương tác xã hội trong các quan hệ gia đình, trường học, cộng đồng và văn hóa đóng vai trò quan trọng đối với việc học và sự phát triển của cấu trúc nhận thức; ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển cơ thể và tâm lí của trẻ. Học thuyết hành vi của SkinnerB.F (1953) và Albert Bandura (1963) cho rằng bản chất của việc học ở trẻ nhỏ là thông qua sự bắt chước và quan sát người khác. Việc học diễn ra liên tục là kết quả của sự khích lệ trong môi trường.
Những lời khen ngợi trẻ nhỏ đối với hành vi thích hợp sẽ có hiệu quả tốt hơn sự trừng phạt trẻ hoặc cấm đoán hành vi không mong muốn ở trẻ. Do đó, cha mẹ và GV cần coi trọng và khen ngợi các hành vi đúng của trẻ [20]. Học thuyết của J.Piaget thừa nhận trẻ nhỏ có vai trò tích cực trong sự phát triển nhận thức của mình thông qua quá trình giao tiếp tích cực với môi trường vật chất và môi trường xã hội. Ở lứa tuổi mẫu giáo, trẻ đã chuyển từ kiểu tư duy trực quan hành động sang kiểu tư duy trực quan hình tượng nên chơi là hình thức cơ bản giúp trẻ phát triển.
Ông cho rằng tri thức nảy sinh từ hoạt động. Hoạt động cùng nhau, hợp tác giữa thầy và trò, giữa trò và trò, hoạt động cá nhân kết hợp với hoạt động nhóm có tác dụng to lớn trong phát triển trí thông minh nói riêng, giúp trẻ phát triển toàn diện nhân cách nói chung. Học thuyết sinh thái của U.Bronfenbrenner (1979) nghiên cứu về môi trường sinh thái người và các mối quan hệ qua lại của môi trường xung quanh một người đang trưởng thành. Đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, môi trường trực tiếp trong đó những mối quan hệ của trẻ với gia đình, trường mầm non và bạn bè rất quan trọng [33].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Các học thuyết trên đã đưa ra sự giải thích về quá trình học và về cách thức chiếm lĩnh tri thức của trẻ mầm non, giúp các nhà nghiên cứu trẻ em vận dụng để xây dựng chương trình giáo dục đáp ứng nhu cầu và đặc điểm phát triển của trẻ. Ở Mỹ và Anh, Hiệp hội giáo dục trẻ mầm non không khuyến khích các trường mầm non phải theo một chương trình mà họ cung cấp sự hướng dẫn và dựa trên nguồn tài liệu phong phú GV được chủ động chọn nội dung, cách thức và sự đánh giá phù hợp với trẻ. Spodek (1990), nhà giáo dục người Mỹ cho rằng người lớn chúng ta không thể quyết định dạy trẻ cái gì (nội dung) mà quên đi trẻ em học thế nào, bởi vì “học như thế nào” liên quan nhiều đến phương pháp. Nội dung chương trình (học cái gì), các quá trình học (học như thế nào), các chiến lược giảng dạy (dạy như thế nào), môi trường (hoàn cảnh học) và các chiến lược đánh giá (cho biết việc học tập xảy ra như thế nào) là những vấn đề có quan hệ qua lại với nhau và tạo nên chương trình giáo dục mầm non (Brekdekamp, 1992).
Ở Úc, chương trình giáo dục mầm non được thiết kế theo hướng quan tâm đến lựa chọn nội dung phù hợp với nhu cầu và môi trường sống của trẻ. Trong giờ học, trẻ em sẽ có những hoạt động vui chơi tập thể với các trang thiết bị, đồ chơi trong nhà, ngoài trời được thiết kế chiều cao, độ cứng và các góc cạnh phù hợp với các em và đảm bảo mức an toàn tối đa (Theo Tina Bruce (1991) - chuyên gia giáo dục mầm non). Chương trình đổi mới hệ thống giáo dục mầm non của Hàn Quốc từ năm 1997 cũng đã ghi nhận môi trường giáo dục đầu đời đóng vai trò thiết yếu trong việc xây dựng nền tảng phát triển tổng thể của con người. Chương trình giáo dục trẻ mầm non có thể được so sánh giống như “mạng nhện”.
Trong mạng nhện đó, trẻ thể hiện hứng thú của bản thân một cách tự nhiên không có sự sắp đặt, các góc chơi được kết hợp một cách vô thức trong toàn bộ hoạt động của trẻ. Những GV cho rằng các yếu tố cấu thành nên quá trình giáo dục trẻ được kết hợp đan lại giống như một mạng nhện lành lặn không bị đứt quãng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Tác giả Christine Chen - nhà sáng lập và Chủ tịch Hiệp hội các nhà giáo dục mầm non Singapore (AECES), Chủ tịch Hiệp hội giáo dục mầm non Thế giới (ACEI) cho rằng phong trào cấp tiến nhìn nhận giáo dục là một quá trình xã hội và lớp học được tổ chức như một cộng đồng trong đó học sinh học cách cộng tác với nhau và vớiGV. Giáo dục cấp tiến dạy trẻ các kỹ năng của thế kỷ 21 với 3 kỹ năng: Giao tiếp - Cộng tác - Sáng tạo.
Theo Christine Chen, những phương pháp, tiếp cận tiên tiến và các xu thế trong giáo dục mầm non của thế giới đang được Singapore và các nước áp dụng trong xây dựng chương trình giáo dục mầm non là mô hình Bank street, Montessori và Đa trí tuệ. [Ứng dụng phương pháp Montessori vào chương trình giáo dục mẫu giáo của Bộ Giáo dục - Đào tạo - Posted on Tháng Bảy 4, 2011 by chigiaolang] Tất cả các nhà nghiên cứu đã thống nhất đánh giá vai trò quan trọng hoạt động học với trẻ mầm non trong các lĩnh vực phát triển, đặc biệt là quản lý hoạt động học có chủ đích cho trẻ. Những hoạt động học có chủ đích trẻ được làm quen ngay từ khi trẻ 3 - 6 tuổi. Từ những quan điểm trên đã cho ta một cách nhìn cơ bản hoạt động học có chủ đích của trẻ, vấn đề tổ chức hoạt động học trong mối quan hệ với các yếu tố quản lý môi trường học tập và chương trình học của trẻ.
Những nghiên cứu trong nước Trong sự nghiệp giáo dục của nước ta, bậc học mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân và là bậc học quan trọng nhất. Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ. Muốn làm được thế thìtrước hết phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy phải bền bỉ chịu khó mới dạy được các cháu “Dạy trẻ như trồng cây non, trồng cây non được tốt thì sau này càng lên tốt, dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này các cháu thành người tốt” [16].
Nói đến chăm sóc, giáo dục trẻ thực chất là nói đến 3 lĩnh vực: Dinh dưỡng, sức khỏe và giáo dục. Ba lĩnh vực này có tác động và ảnh hưởng qua lại với nhau rất mật thiết, tạo nên một tác động tổng thể đến chất lượng phát triển của trẻ. Trong 3 lĩnh vực đó thì giáo dục là một phần rất quan trọng không thể thiếu được. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Được sự quan tâm của Đảng, bậc học mầm non đã từng bước xây dựng và phát triển.
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2010 - 2020, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với các mục tiêu giáo dục mầm non là “Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi vào năm 2015; đến năm 2020, có ít nhất 30% trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ và 80% trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong các cơ sở giáo dục mầm non giảm xuống dưới 10%.