phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước tại quận Long Biên, Thành phố Hà Nội. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước tại quận Long Biên, Thành phố Hà Nội. Luan van 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.
Khái quát về đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc 1. Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước -K ầu t : Theo Lê Xuân Mậu (2014): “H ạt ộ ầu t ( tắt ầu t ) qu tr s u ự v t í , ộ ,t u t v t sả v t ất ằ trự t ếp ặ t ếp t sả uất ả ơ v t sả uất ở rộ ơ sở v t ất ỹ t u t tế chung.”[9,tr26] Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư, có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư. Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ.
Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực. Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó. Từ các ý kiến trên, tác giả luận văn rút ra khái niệm về đầu tư như sau: Đầu t ạt ộ s u ự t í , u ự v t ất, u ự ộ v trí tu ể sả uất tr ột t ờ t ơ ằ thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. -K s ớ : Luan van 11 Theo Quốc hội Việt Nam (2015): “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi c N ớ c dự toán và thực hi n trong một khoảng thời gian nhất ơ qu ớc có thẩm quy n quyết ể bả ảm thực hi n các ch ă , mv c N ớ ” NSNN bao gồm các khoản thu: từ thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân, các khoản viện trợ, các khoản thu khác theo quy định của pháp luật, các khoản do Nhà nước vay để bù đắp bội chi, được đưa vào cân đối NSNN và bao gồm các khoản chi: chi phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng an ninh, bảo đảm hoạt động bộ máy Nhà nước, chi trả của Nhà nước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Theo Lê Đại Hà (2004): “NSNN p ản ánh hoạt ộng c N ớc trên p ơ n tài chính. Trong h th ng tài chính, NSNN là bộ ph n ch ạo, u ki n v t chất quan tr ểN ớc thực hi n các nhi m v c a mình. Mặt khác nó còn là công c quan tr ểN ớc thực hi u tiết vĩ n KT-XH ” Xét theo biểu “hiện bên ngoài, NSNN bao gồm những nguồn thu cụ thể, những khoản chi cụ thể và được định hướng các nguồn thu đều được nộp vào một quỹ tiền tệ gọi là quỹ NSNN và các khoản đều được xuất ra từ quỹ tiền tệ ấy. Những khoản thu nộp và cấp phát qua quỹ NSNN là các quan hệ được xác định trước, được định lượng và Nhà nước sử dụng chúng để điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế.
Dưới góc độ hình thức, NSNN là một bản dự toán thu và chi tài chính hàng năm của nhà nước do Chính phủ lập ra, đệ trình Quốc hội quyết định và giao cho chính phủ thực hiện. Xét về bản chất kinh tế chứa đựng trong NSNN: Những quan hệ thu nộp cấp phát qua quỹ NSNN là những quan hệ được xác định trước, được định lượng và nhà nước sử dụng chúng để điều tiết vĩ mô KT-XH. Các hoạt động thu - chi NSNN đều phản ánh những quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội gắn với quá trình tạo lập quản lý và sử” dụng quỹ NSNN. Luan van 12 Từ những phân tích trên, tác giả luận văn rút ra khái niệm NSNN như sau: “NSNN ạt ộ t í ơ bả N ớ , ạt ộ t u NSNN v ạt ộ NSNN tr ột ạ ất M u t í tr NSNN u ơ qu ớ quả ý, s v p p t e qu ” -K ầu t ự ơ bả từ u v NSNN: Theo Hồ Thị Mai Hương (2020), định nghĩa: “Đầu t ự ơ bả từ u v NSNN tr tế qu ột bộ p ầu t p t tr ể Đ í qu tr bỏ v ể tế ạt ộ ự ơ bả ằ t sả uất ả ơ v t sả uất ở rộ r t sả tr tế D v ầu t ự ơ bả từ u v NSNN t qu tr tr qu tr p t tr ể tế - ã ộ tế u v ơ sở sả uất r ” [8,tr11] Có thể hiểu, đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn NSNN là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằm thu được lợi ích với nhiều hình thức khác nhau.
Đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn NSNN trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế. Như vậy, theo tác giả luận văn: “Đầu t ự ơ bả từ u v NSNN ột bộ p ạt ộ ầu t , v bỏ v ểtế ạt ộ ự ơ bả ằ t sả uất ả ơ v t sả uất ở rộ t sả ằ p t tr ể ơ sở v t ất ỹ t u t tế qu ” 1. Đặc điểm đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước - Nguồn vốn đầu tư: Nguồn vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN là nguồn vốn từ NSNN và chủ yếu được dành cho đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Đó là các công trình, DA cơ sở hạ tầng như đường giao thông, đường điện, trường học, bệnh viện, hệ Luan van 13 thống thuỷ lợi, đê, cảng biển, .; các DA trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ; các công trình, DA thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình phát triển KTXH; các công trình, DA văn hoá xã hội, công cộng; các công trình DA an ninh, quốc phòng,.
- Dự án đầu tư: Sản phẩm đầu tư XDCB có tính đơn chiếc; mỗi hạng mục công trình, công trình có một thiết kế và dự toán riêng tùy thuộc vào mục đích đầu tư và điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, khí hậu, thời tiết… của nơi đầu tư xây dựng công trình. Mục đích của đầu tư và các điều kiện trên quyết định đến quy hoạch, kiến trúc, quy mô và kết cấu khối lượng, quy chuẩn xây dựng, giải pháp công nghệ thi công… và dự toán chi phí đầu tư xây dựng công trình, hạng mục công trình. Vì vậy, quản lý chi NSNN trong đầu tư XDCB phải gắn với từng hạng mục công trình, công trình xây dựng nhằm quản lý chặt chẽ về chất lượng xây dựng và vốn đầu tư. -Chủ thể đầu tư: Đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN có điểm khác cơ bản với đầu tư bằng vốn không phải của nhà nước là cơ chế quản lý.
Do chủ sở hữu đầu tư phát triển của nhà nước là nhà nước, chủ đầu tư chỉ là người sử dụng vốn nên cần có cơ chế quản lý chặt chẽ đi liền với việc kiểm tra giám sát để hạn chế tiêu cực, thất thoát, lãng phí. Còn đầu tư không phải của nhà nước, chủ đầu tư là chủ sở hữu vốn đích thực nên cơ chế quản lý đơn giản, gọn nhẹ hơn. - Mục tiêu đầu tư: Đầu tư XDCB bằng vốn nhà nước chủ yếu được tiến hành theo kế hoạch nhà nước, nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển KTXH trong từng thời kỳ. Phân loại đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước Tuỳ theo căn cứ phân chia, đầu tư XDCB thường được phân loại như sau: T ất, căn cứ vào cấp quản lý ngân sách: - Đầu tư của ngân sách Trung ương được hình thành từ các khoản thu của ngân sách Trung ương nhằm đầu tư cho các DA phục vụ cho lợi ích quốc gia.
- Đầu tư của ngân sách địa phương được hình thành từ các khoản thu của ngân sách địa phương nhằm đầu tư cho các DA phục vụ cho lợi ích của từng địa phương đó. Luan van 14 T , căn cứ mức độ kế hoạch đầu tư: - Đầu tư XDCB tập trung: Nguồn vốn này được hình thành theo kế hoạch với tổng mức vốn và cơ cấu vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết định giao cho từng bộ, ngành và từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. - Đầu tư XDCB từ nguồn thu được để lại theo Nghị quyết của Quốc hội, các địa phương chủ động đầu tư (bao gồm đầu tư từ nguồn thu tiền sử dụng đất). - Đầu tư theo các chương trình, DA quốc gia như: chương trình 135, chương trình kiên cố hoá kênh mương và giao thông nông thôn, DA trồng mới 5 triệu ha rừng… - Đầu tư XDCB thuộc NSNN nhưng được để lại cho đơn vị đầu tư tăng cường cơ sở vật chất như nguồn vốn quảng cáo, nguồn thu học phí, viện phí, liên doanh liên kết … Nguồn NSNN đầu tư cho XDCB không có khả năng thu hồi trực tiếp với số lượng lớn, có tác dụng chung cho nền kinh tế, xã hội; các thành phần kinh tế khác không có khả năng hoặc không muốn tham gia đầu tư.
Vì là nguồn vốn cấp phát trực tiếp từ NSNN không hoàn lại nên dễ bị thất thoát, lãng phí, đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ.