Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản lý đầu tư vốn ngân sách nhà nước cho phát triển nông nghiệp 1. Khái niệm quản lý đầu tư vốn NSNN cho phát triển nông nghiệp 1. Khái niệm đầu tư Đầu tư trong kinh tế học vi mô, chỉ việc gia tăng tư bản nhằm tằng cường năng lực sản xuất tương lai.
Đầu tư, vì thế, còn được gọi là hình thành tư bản hoặc tích lũy tư bản. Tuy nhiên, chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới được tính. Còn tăng tư bản trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất động sản bị loại trừ. Việc gia tăng tư bản tư nhân (tăng thiết bị sản xuất) được gọi là đầu tư tư nhân.
Việc gia tăng tư bản xã hội được gọi là đầu tư công cộng. Theo các hiểu của kinh tế đầu tư, đầu tư là sự từ bỏ các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực bỏ ra để đạt được kết quả đó (Nguyễn Bạch Nguyệt, Từ Quang Phương, 2007). Nguồn lực phải hi sinh đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động, trí tuệ. (trang 10, [4]) Các hoạt động bỏ tiền ra xây dựng công trình giao thông, thông tin.làm gia tăng tài sản cho nền kinh tế.
Các hoạt động này là đầu tư phát triển hay đầu tư trên giác độ nền kinh tế. Đầu tư phát triển đòi hỏi rất nhiều nguồn lực. Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển là tiền vốn. Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tư gồm tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên thiên nhiên.
Như vậy, có thể hiểu rằng đầu tư bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng đạt kết quả đó. Khái niệm đầu tư vốn ngân sách nhà nước Vốn Ngân sách thường được gọi là vốn ngân sách Nhà nước vốn ngân sách trung ương, vốn ngân sách cấp Tỉnh, vốn ngân sách cấp huyện, thị xã. Vốn ngân sách được hình thành từ vốn tích LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 luỹ của nền kinh tế và được Nhà nước duy trì trong kế hoạch ngân sách để cấp cho các đơn vị thực hiện các kế hoạch Nhà nước hàng năm, kế haọch 5 năm và kế hoạch dài hạn. Đối với cấp hành chính là huyện, thị xã thì việc nhận vốn ngân sách cho đầu tư bao gồm vốn đầu tư của Nhà nước cấp thông qua sở Tài chính, vốn ngân sách của Tỉnh.
Là nguồn vốn được huy động chủ yếu từ nguồn thu thuế và các loại phí, lệ phí. Đây là nguồn vốn có ý nghĩa quan trọng mặc dù vốn ngân sách rất ít tổng vốn đầu tư xã hội, song là nguồn vốn Nhà nước chủ động điều hành, đầu tư các lĩnh vực cần ưu tiên phát triển then chốt của nền kinh tế những khu vực khó có khả năng thu hồi vốn, những lĩnh vực mà tư nhân hoặc doanh nghiệp không muốn hoặc không thể đầu tư vào các dự án thuộc các lĩnh vực sau: Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; đường giao thông, hạ tầng đô thị, các công trình cho giáo dục - văn hoá xã hội, quản lý Nhà nước. Đầu tư các dự án sự nghiệp kinh tế như: Sự nghiệp giao thông; duy tu, bảo dưỡng, sữa chữa cầu đường: Sự nghiệp nông nghiệp, thuỷ lợi như: duy tu, bảo dưỡng các tuyến đê, kênh mương, các công trình lợi ; Sự nghiệp thị chính: duy tu bảo dưỡng hệ thống đèn chiếu sáng, vỉa hè, hệ thống cấp thoát nước; Các dự án điều tra cơ bản. (Trang 28, [3]) Khái niệm đầu tư vốn NSNN được xây dựng theo các tính chất quan hệ sở hữu vốn, khu vực đầu tư, hiệu quả đầu tư và đối tượng đầu tư.
Theo đối tượng sở hữu vốn, hoạt động đầu tư sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước được gọi là đầu tư công, thuộc sở hữu tư nhân gọi là đầu tư tư nhân. Đây cũng chính là cách tiếp cận đầu tư công thì đầu tư công là đầu tư từ vốn nhà nước vào các ngành, lĩnh vực và lợi ích chung, không nhằm mục địch kinh doanh. Như vậy, định nghĩa này tiếp cận đầu tư công theo góc độ chủ thể quản lý nhà nước, nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của nhà nước đối với hoạt động đầu tư công. Theo khu vực đầu tư, nền kinh tế bao gồm hai khu vực là Công và Tư.
Hoạt động đầu tư thuộc khu vực công cộng được gọi là đầu tư công cộng, hoạt động đầu tư khu vực tư gọi là đầu tư tư nhân. Nhìn theo hiệu quả đầu tư, kinh tế vĩ mô cho rằng: Đầu tư làm gia tăng tư bản xã hội gọi là đầu tư công cộng hay gọi là đầu tư công. Cách tiếp cận trên nhìn từ góc độ quy mô tác động, hiệu quả của đầu tư. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Xét theo đối tượng thụ hưởng đầu tư và đầu ra của đầu tư, các hoạt động sản xuất ra hàng hóa công cộng gọi là đầu tư công, các hoạt động sản xuất ra hàng hóa tư nhân được gọi là đầu tư tư nhân.
Tiếp cận theo góc độ này, kinh tế công cộng cho rằng : đặc trưng chủ yếu hàng hóa, dịch vụ công là hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu cần thiết của xã hội, cộng đồng, việc tiến hành hoạt động cung cấp hàng hóa ấy thiết yếu của xã hội, cộng đồng việc tiến hành hoạt động cung cấp hàng hóa ấy có thể do nhà nước trực tiếp cung cấp, đảm nhiệm và trao quyền cung cấp hoàng hóa cho các cá nhân hoặc Nhà nước tài trợ công cho khu vực tư để cung cấp hàng hóa công. Theo cách tiếp cận này, đầu tư công là hoạt động đầu tư cung cấp hàng hóa công, có thể do chủ đầu tư là nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm dưới sự quản lý , hỗ trợ và định hướng của nhà nước nhằm mục đích phục vụ lợi ích chung của xã hội. Theo điều 70, chương VII, luật đầu tư (2005) của nước ta quy định: tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế được bình đẳng tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định. Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ các hoạt động công ích và danh mục sản phẩm, dịch vụ công ích.
Điều này có nghĩa là Nhà nước không độc quyền trong lĩnh vực đầu tư cung cấp hàng hóa dịch vụ công, Nhà nước có thể xã hội hóa hoạt động này bằng việc trao một phần đầu tư cung cấp hàng hóa công chi khu vực Nhà nước thực hiện. Như vậy: Đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước hình thức đầu tư mà nguồn vốn từ ngân sách nhà nước vào các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia nhà nước như: cơ sở hạ tầng, các lĩnh vực phi lợi nhuận.nhằm phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân, đặc biệt là thu hút các nguồn vốn khác đầu tư tại địa phương. Khái niệm đầu tư nông nghiệp Nông nghiệp được hiểu theo hai nghĩa Theo nghĩa hẹp: nông nghiệp chỉ có ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Theo nghĩa rộng: nông nghiệp bao gồm các ngành nói trên và cả ngành lâm nghiệp, thủy sản.
(trang 21, [1]) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Dưới góc độ là một môn khoa học nghiên cứu những quy luật kinh tế vận động trong lĩnh vực đầu tư thì hoạt động đầu tư được hiểu như sau: Đầu tư là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực trong một khoảng thời gian xác định nhằm đạt được kết quả hoặc một tập hợp các mục tiêu xác định trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là hoạt động sử dụng vốn trong hiện tại, nhằm tạo ra những tài sản vật chất và trí tuệ mới, năng lực sản xuất mới và duy trì những tài sản hiện có, nhằm tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển. Nguồn lực cho đầu tư phát triển được hiểu theo nghĩa hẹp đó là tiền vốn. Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tư phát triển là bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc, thiết bị, tài nguyên.
Nguồn lực phải hy sinh đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả đạt được có thể tăng thêm về mặt giá trị các tài sản tài chính (tiền vốn), hoặc tăng thêm năng lực sản xuất, năng lực phục vụ của tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, trường học…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, quản lý, khoa học…) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội. Do đó, đầu nông nghiệp là những hoạt động đầu tư tạo ra tài sản mới cho ngành nông nghiệp, tạo ra những tài sản vật chất (chuồng trại, các trung tâm sản xuất, máy móc thiết bị…), tăng tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng trong chăn nuôi, nghiên cứu giống cây trồng vật nuôi….), gia tăng tiềm lực sản xuất nông nghiệp, tạo thêm việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp.Qua đó, tọa tiền đề để thực hiện những kế hoạch lâu dài trong ngành nông nghiệp của địa phương, vùng lãnh thổ hoặc một quốc gia nhằm đem lại lợi ích về kinh tế, chính trị văn hóa và xã hội phù hợp với chiến lược phát triển chung của nền kinh tế. Khái niệm phát triển nông nghiệp Nông nghiệp là ngành có vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống người dân nói chung và đảm bảo an ninh lương thực nói riêng.
Một đất nước hay một địa phương muốn tồn tại và phát triển thì trước hết phải có nền nông nghiệp phát triển. Chính vì vậy, nền nông nghiệp cần có sự thay đổi cả về chất và lượng để đáp ứng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 sự phát triển của nền kinh tế, phục vụ nhu cầu của người dân ngày càng cao. Như vậy, phát triển nông nghiệp trước hết đáp ứng đầy đủ về mặt số lượng cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế, ngoài ra đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu về chất lượng sản phẩm từ sản xuất nông nghiệp trong khi con người đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng sản phẩm nông nghiệp.