LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đối với các quốc gia chậm và đang phát triển FDI còn góp phần quan trọng vào việc đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế. FDI còn có vai trò tích cực trong việc góp phần giải quyết việc làm và quan trọng hơn cả là đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở các nước chậm và đang phát triển. Số lượng lao động có việc làm và chuyên môn cao ở trong nước ngày càng tăng, và điều cơ bản mà FDI đã làm được đó là không chỉ nâng cao tay nghề mà còn thay đổi tư duy và phong cách lao động theo kiểu công nghiệp hiện đại, là lực lượng tiếp thu chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiến bộ.
Đối với các đơn vị hành chính lãnh thổ cấp tỉnh FDI cũng có vai trò đáng kể trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo chiều hướng phát triển dịch vụ, công nghiệp có tỷ trọng lợi nhuận cao. FDI cũng góp phần thay đổi lớn “ bộ mặt” của các địa phương bằng các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao cùng các nhà máy xí nghiệp trong đó, cơ sở hạ tầng của địa phương cũng được phát triển, bên cạnh đó FDI còn có vai trò quan trọng trong giải quyết việc làm cho địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh vai trò quan trọng đối với các quốc gia nói chung và các đơn vị hành chính cấp tỉnh FDI cũng bộc lộ nhiều mặt trái của quá trình đầu tư đặc biệt đối với các nước chậm và đang phát triển. Ô nhiễm môi trường đáng báo động và tham vọng chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI không thành là hồi chuông cảnh báo cho chính sách thu hút FDI thiếu cẩn trọng.
An ninh trật tự xã hội và các vấn đề có liên quan đến truyền thống đạo đức, bản sắc văn hóa dân tộc, phân hóa giàu nghèo giữa các vùng miền, vấn đề bóc lột, vấn đề giai cấp …phát sinh. Chính vì vậy không thể thiếu được vai trò của Nhà nước trong quản lý FDI. Trên đây là lý do mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thực hiện quản lý FDI. Bên cạnh vai trò quan trọng đối với các quốc gia nói chung và quốc gia chậm phát triển nói riêng, FDI cũng bộc lộ một số vấn đề đáng lưu tâm trong quá trình đầu tư.
Tổng kết sau gần 30 năm đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, số liệu từ Bộ Kế Hoạch và Đầu tư cho thấy có gần 80% sử dụng công nghệ trung bình của thế giới, trong đó chỉ khoảng 5% sử dụng công nghệ cao và gần 20% sử dụng công nghệ lạc hậu. Các 2 công nghệ lạc hậu được “phù phép” và nhập khẩu vào Việt Nam gắn mác công nghệ cao cấp và qua mặt các cơ quan quản lý tại Việt Nam một cách dễ dàng. Ngoài ra, một số vấn đề cộm cán khác như ô nhiễm môi trường, an ninh trật tự, tệ nạn xã hội, kinh doanh trái phép, gian lận thương mại, trốn thuế cũng phát sinh theo chiều hướng tiêu cực, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới hiệu quả kinh tế của vốn FDI và hoạt động thu hút FDI trong những năm tới. Vai trò quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối với FDI rất quan trọng và cần thiết nhằm đảm bảo sự hợp tác và liên kết với nhau trong việc khai thác và sử dụng các nguồn lực sẵn có trên địa bàn lãnh thổ của các doanh nghiệp FDI.
Cụ thể: trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, lâm sản, hải sản,…), khai thác và sử dụng điều kiện tự nhiên (như đất đai, thời tiết, sông hồ, bờ biển, thềm lục địa…); sử dụng nguồn nhân lực; xử lí chất thải, bảo vệ môi trường sinh thái; sử dụng kết cấu hạ tầng kỹ thuật (giao thông, cung ứng điện nước, bưu chính viễn thông…) trong đó rất quan trọng là vai trò quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, môi trường của chính quyền cấp tỉnh đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Chính vì các doanh nghiệp FDI trên địa bàn lãnh thổ phát sinh nhiều mối quan hệ như trên nên đòi hỏi phải có sự tổ chức, điều hòa và phối hợp hoạt động của chúng, đòi hỏi phải có sự kiểm tra, thanh tra, giám sát để đảm bảo FDI đạt hiệu quả cao trên địa bàn lãnh thổ. Trong năm 2017, Hà Nam đã làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 21 dự án FDI với tổng vốn đăng ký và điều chỉnh gần 300 triệu USD; qua đó nâng tổng số dự án FDI trên địa bàn tỉnh tính đến năm tháng 12/2017 là 207 dự án với tổng số vốn đăng ký và điều chỉnh gần 2,4 tỷ USD. Kết quả thu hút các dự án FDI đã góp phần quan trọng vào việc huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội của tỉnh để phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Một số thành công đáng kể trong công tác thu hút cũng như quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh như sau: Một là, công tác ban hành các quy định, văn bản quy phạm để cụ thể hóa, tổ chức thực hiện Luật và các nghị định được ban hành từ cấp Trung ương. Hai là, tư duy, phương hướng của các nhà lãnh đạo linh hoạt, chính xác và rất tiến bộ, phù hợp với bối cảnh nền kinh tế ngày càng hiện đại và toàn cầu hiện nay. 3 Tuy nhiên, nhìn tổng quan thì hoạt động FDI tại tỉnh nhà phân bố không đều. Hầu hết các dự án lớn đều tập trung tại khu công nghiệp Đồng Văn, huyên Duy Tiên.
Bên cạnh đó, các lĩnh vực mà nhà nước khuyến khích đầu tư lại chiếm tỉ trong rất nhỏ, ngày càng xuất hiện nhiều các doanh nghiệp FDI trốn thuế, chuyển giá, rửa tiền, làm xấu môi trường đầu tư tại tỉnh. Có thể kể đến một số nguyên nhân của những vấn đề trên liên quan đến hoạt động quản lý của các cơ quan chức năng như sau: Một là, sự phát triển của cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế cũng như chưa tạo nền móng vững chắc để thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát huy một cách hiệu quả nó. Hai là, sự phát triển của công nghiệp phụ trợ còn hạn chế, chính sách ưu đãi chưa hấp dẫn. Bốn là, chưa thực hiện tốt công tác phân cấp quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài, hạn chế về nguồn nhân lực.
Năm là, công tác thanh kiểm tra còn có nhiều bất cập. Căn cứ từ những vấn đề trên, tác giả quyết định chọn đề tài tốt nghiệp: “Tăng cường quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Hà Nam”. Tình hình nghiên cứu Trong nhiều năm quan, với những chính sách, biện pháp sáng tạo, linh hoạt, tỉnh Hà Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong thu hút FDI, đặc biệt là thu hút FDI vào các KCN. Các doanh nghiệp FDI tại các KCN tỉnh Hà Nam đã có những đóng góp quan trọng trong tăng trưởng, phát triển nền kinh tế trong tỉnh, tạo việc làm cho nhiều lao động và có tác động đáng kể tới phát triển khu vực kinh tế địa phương.
Tuy vậy, thu hút và duy trì sự tăng trưởng của các doanh nghiệp FDI trong các KCN của tỉnh Hà Nam còn thiếu bền vững. Cơ cấu các doanh nghiệp FDI còn chưa hợp lý: thiếu các dự án đầu tư lớn, công nghệ cao; tỷ trọng các dự án đầu tư từ các nước phát triển như Hoa Kỳ và Châu Âu còn thấp, tác động của khu vực đầu tư nước ngoài đối với khu vực kinh tế địa phương còn hạn chế. Các hoạt động xúc tiến đầu tư, chăm sóc hoạt động của 4 các doanh nghiệp FDI… cũng bộc lộ những tồn tại, vướng mắc cần xem xét giải quyết. Tác giả Trần Văn Kiên chọn đề tài “Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam” nhằm mục đích phân tích, đánh giá thực trạng tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh.
Luận án đã tập trung hệ thống hóa được những vấn đề lý luận về thu hút FDI vào các khu công nghiệp và mối quan hệ giữa phát triển khu công nghiệp với thu hút FDI. Bên cạnh đó đã nêu và phân tích các nội dung, nhân tố ảnh hưởng và hệ thống các tiêu chí đánh giá hiệu quả của hoạt động thu hút FDI vào các khu công nghiệp theo cách tiếp cận vĩ mô dưới góc độ của nhà quản lý.Tác giả nghiên cứu thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đánh giá ảnh hưởng của dòng vốn FDI đến phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hà Nam. Qua đó cũng chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong thu hút vốn FDI vào các khu công nghiệp trong tỉnh như phân bố mất cân đối dòng FDI, hiệu quả thấp, quy mô nhỏ. Đề xuất các kiến nghị nhằm đẩy mạnh, tăng cường thu hút FDI vào các KCN tỉnh.
Như vậy, luận án chỉ đề cập về mặt lý luận hoạt động thu hút FDI, thực trạng, giải pháp thu hút FDI vào các KCN trong tỉnh mà chưa đề cập đầy đủ đến hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước đối với dòng vốn này. Chuyên đề “ Thực trạng và giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trưc tiếp nước ngoài vào tỉnh Hà Nam” – Phạm Khánh Chi, trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Hà Nội.Chuyên đề đã nêu được những chính sách thu hút FDI của tỉnh Hà Nam trong những năm qua, đưa ra thực trạng thu hút FDI vào tỉnh giai đoạn 1997 – 2012 , đánh giá hiệu quả đầu tư cũng như chỉ ra những hạn chế, tồn đọng trong quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và nêu được những nguyên nhân tác động như: (i)hoạt động xúc tiến đầu tư trong tỉnh chưa được chú trọng phát triển, thủ tục hành chính chưa thực sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài; (ii)cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng nhu cầu phát triển; (iii)chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, … Bên cạnh đó, tác giả chuyên đề cũng đề xuất được giải pháp, kiến nghị, định hướng nhằm tăng cường thu hút FDI vào tỉnh trong những năm tiếp theo: Một là, đầu tư ngân sách cho các hoạt động quảng bá về tỉnh đồng thời tăng cường đổi mới, vận động xúc tiến đầu tư. 5 Hai là, hoàn thiện cơ chế chính sách về đầu tư trực tiếp nước ngoài.