phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm bốn chƣơng: Chƣơng 1 - Một số vấn đề lý luận về quản lý Nhà nƣớc đối với đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào các tỉnh, thành phố. Chƣơng 2 – Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3 - Thực trạng quản lý Nhà nƣớc về thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào tỉnh Phú Thọ. Chƣơng 4 – Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nƣớc về thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào tỉnh Phú Thọ.
6 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ 1. Khái niệm và nội dung quản lý nhà nƣớc về thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào các tỉnh, thành phố. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là một trong những hình thức di chuyển vốn giữa các quốc gia, trong đó ngƣời sở hữu vốn là ngƣời trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn đầu tƣ. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ trong giao lƣu và hợp tác quốc tế, hoạt động đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ngày càng diễn ra sôi động trong khu vực và trên thế giới. Xu hƣớng chung là ngày càng tăng lên cả về số lƣợng, quy mô, hình thức, thị trƣờng, lĩnh vực đầu tƣ và thể hiện vị trí, vai trò ngày càng to lớn trong các quan hệ kinh tế quốc tế. Đã có nhiều quan niệm về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, một trong những khái niệm đƣợc nhiều ngƣời biết đến, theo quĩ tiền tệ quốc tế (IMF): đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đƣợc hiểu là số vốn đầu tƣ đƣợc thực hiện để thu đƣợc lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp đang hoạt động trong một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tƣ.
Ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tƣ còn mong muốn có đƣợc chỗ đứng trong quản lý doanh nghiệp và mở rộng thị trƣờng. Định nghĩa này đã nhấn mạnh động cơ đầu tƣ và phân biệt đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và đầu tƣ gián tiếp. Một định nghĩa khác, theo Ngân hàng thế giới (WB) đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đƣợc hiểu là việc công dân của một nƣớc thành lập hoặc mua lại một phần đáng kể sở hữu và quản lý ít nhất là 10% vốn chủ sỏ hữu của doanh nghiệp ở một nƣớc khác. Theo Luật đầu tƣ Việt Nam năm 2005, đầu tƣ là việc các nhà đầu tƣ bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản nhằm tiến 7 hành các hoạt động đầu tƣ theo qui định của Luật đầu tƣ và qui định khác của Luật liên quan.
Đầu tƣ trực tiếp là hình thức đầu tƣ do nhà đầu tƣ bỏ vốn đầu tƣ và tham gia hoạt động quản lý đầu tƣ. Từ những cách nhìn nhận khác nhau về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, có thể hiểu đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là hình thức đầu tƣ do nhà đầu tƣ nƣớc ngoài bỏ vốn đầu tƣ bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để hình thành tài sản nhằm tiến hành các hoạt động đầu tƣ theo qui định của nƣớc sở tại. Nhƣ vậy, đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nƣớc ngoài (chủ đầu tƣ, vốn đầu tƣ và địa điểm đầu tƣ từ các quốc gia khác nhau). Nhân tố nƣớc ngoài ở đây không chỉ thể hiện ở sự khác biệt về quốc tịch hoặc về lãnh thổ cƣ trú thƣờng xuyên của các bên tham gia vào quan hệ đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài mà còn thể hiện ở việc di chuyển tƣ bản trong đầu tƣ trực tiếp vƣợt ra khỏi biên giới một quốc gia.
Đặc điểm nổi bật của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là các nhà đầu tƣ tự kiểm soát quá trình hoạt động và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình, mục tiêu chính của các nhà đầu tƣ là tối đa hoá lợi nhuận. Khái niệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Thu hút đầu tƣ nói chung đƣợc hiểu là quá trình xây dựng và hoàn thiện môi trƣờng đầu tƣ nhằm mời gọi đầu tƣ và tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tƣ trong và ngoài nƣớc trong quá trình đầu tƣ để đạt những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định. Môi trƣờng đầu tƣ đƣợc đề cập đến ở đây là tổng thể các nhân tố có tác động qua lại lẫn nhau và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động đầu tƣ, điều chỉnh nhà đầu tƣ trong việc lựa chọn mục đích, hình thức, lĩnh vực, qui mô và phạm vi hoạt động của dựa án đầu tƣ, từ đó có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc kìm hãm quá trình thực hiện đầu tƣ.
Nhƣ vậy thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài của địa phƣơng là quá trình xây dựng và hoàn thiện môi trƣờng đầu tƣ với mục đích kêu gọi nguồn vốn đầu tƣ trực 8 tiếp từ các cá nhân và tổ chức nƣớc ngoài nhằm đẩy nhanh tiến trình phát triển kinh tế xã hội của địa phƣơng. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu a) Hình thức liên doanh. Hình thức này doanh nghiệp đƣợc hình thành dƣới sự góp vốn của các bên thuộc cả nƣớc đầu tƣ và nƣớc nhận đầu tƣ. Doanh nghiệp liên doanh đƣợc thành lập có tƣ cách pháp nhân trong phạm vi luật pháp của nƣớc chủ nhà.
Các bên cùng góp vốn, cùng quản lý điều hành, cùng phân chia lợi nhuận và cùng chịu rủi ro. Sử dụng hình thức đầu tƣ này phía nƣớc nhận đầu tƣ sẽ thu hút đƣợc công nghệ mới, học tập đƣợc kinh nghiệm quản lý, có cơ hội xâm nhập thị trƣờng quốc tế… b) Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng Là hình thức phía nƣớc đầu tƣ và nƣớc nhận đầu tƣ sẽ tiến hành ký hợp đồng hợp tác kinh doanh nhƣ hợp tác sản xuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm… trên cơ sở các điều kiện hiện có về đất đai, nhà xƣởng của phía nƣớc chủ nhà. c) Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Nƣớc nhận đầu tƣ cho phép đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài thuê đất, thuê nhân công, đào tạo cán bộ quản lý, kỹ thuật và tay nghề cho công nhân, toàn quyền điều hành xí nghiệp, tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật của nƣớc nhận đầu tƣ. Ở mỗi nƣớc nhận đầu tƣ nƣớc ngoài, đầu tƣ trực tiếp đƣợc thể hiện dƣới nhiều hình thức khác nhau tuỳ thuộc khuôn khổ pháp lý của nƣớc đó, tuỳ thuộc lĩnh vực đầu tƣ và mục tiêu của chủ đầu tƣ nhƣ: hình thức xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT), hình thức xây dựng - chuyển giao (BT) thƣờng đƣợc sử dụng trong đầu tƣ vào cơ sở hạ tầng; liên doanh liên kết trong đầu tƣ vào phát triển dịch vụ… 9 1.
Những đặc điểm cơ bản của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Thứ nhất, FDI là hoạt động thị trƣờng hơn thế nữa là thị trƣờng mang tính chất và quy luật của thị trƣờng quốc tế. Do điều kiện cạnh tranh quốc tế các nhà đầu tƣ phải tính toán kỹ khả năng, điều kiện thị trƣờng để thu lợi nhuận. Họ sẽ không hoặc sẽ đầu tƣ hạn chế vào những dự án mà hiệu quả kinh tế không rõ ràng và kém hấp dẫn.
Do vậy, một trong những yêu cầu quản lý Nhà nƣớc là phải tạo điều kiện để các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài hiểu đầy đủ và rõ ràng các thông tin về đƣờng lối, chính sách của Nhà nƣớc về pháp luật, thị trƣờng, đối tác và những quy định cụ thể khác đối với FDI. Thứ hai, FDI là hoạt động của khu vực tƣ nhân và hơn thế nữa là hoạt động của tƣ nhân nƣớc ngoài có quyền sở hữu và quyền quản lý. Động cơ của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài khác với mục tiêu của nƣớc chủ nhà. Các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài quan tâm đến những vấn đề thiết thực nhƣ thuế, giá thuê các loại, chi phí sản xuất và cuối cùng là lợi nhuận thực tế.
Trong khi đó nƣớc chủ nhà lại quan tâm đến hiệu quả kinh tế - xã hội, đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Do vậy quản lý Nhà nƣớc về FDI phải tạo điều kiện cho cả 2 lợi ích này dung hoà đƣợc với nhau, bằng các chính sách hƣớng dẫn cụ thể và hấp dẫn đồng thời không áp đặt, ép buộc một cách chủ quan, duy ý chí. Thứ ba, FDI phần lớn do các công ty xuyên quốc gia tiến hành. Lý thuyết và kinh nghiệm cho thấy các công ty này có lợi thế về uy tín, nhãn hiệu, thị trƣờng nhƣng có xu hƣớng "bảo hộ" mạnh, vì vậy việc thu hút các công ty này là một việc làm tốt, cần thiết.
Đồng thời cần có biện pháp thu hút tối đa lợi thế của họ nhƣ công nghệ, bí quyết quản lý, kinh doanh. Thứ tư, FDI đƣợc thực hiện thông qua các dự án đầu tƣ. Quy trình hoạt động dự án FDI có nhiều đặc điểm khác với quy trình của các loại dự án khác. Quy trình này bắt đầu từ việc chuẩn bị dự án, lựa chọn đối tác, đàm phán, lập hồ sơ, ký kết, xin giấy phép cho việc triển khai và đƣa dự án vào hoạt động.
Sự phức tạp này đòi 10 hỏi cần có một cơ quan quản lý Nhà nƣớc đủ mạnh để theo dõi, hỗ trợ cho dự án hoạt động thành công. FDI là một lĩnh vực mới mẻ và phức tạp của hoạt động kinh tế đối ngoại ở Việt Nam, nên ngay từ đầu, Nhà nƣớc đã đứng ra chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ quá trình hoạt động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Những tác động kinh tế - xã hội của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến địa phương tiếp nhận đầu tư. a) Những tác động tích cực.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại, thông qua đó các địa phƣơng sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình phân công lao động quốc tế. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi địa phƣơng phù hợp với trình độ phát triển chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.