Chương 1 ĐIỀU KIỆN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở PHÚ THỌ 1. Khái niệm đầu tư nước ngoài Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư [26, tr.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI), có nhiều khái niệm khác nhau. Theo Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF), FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp [22, tr. Khái niệm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD): Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư. Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có.
Tham gia vào một doanh nghiệp mới. Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm). Quyền kiểm soát : nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên. Theo chính phủ Mỹ, ngoài những nội dung tương tự khái niệm FDI của IMF và OECD, FDI còn gắn với “quyền sở hữu hoặc kiểm soát 10% hoặc hơn thế các chứng khoán kèm quyền biểu quyết của một doanh nghiệp, hoặc lợi ích tương đương trong các đơn vị kinh doanh không có tư cách pháp nhân" [ 22, tr.
Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và trong lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài ngày 09/6/2000 (Điều 2, 9 khoản 1): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”. Theo Giáo trình Kinh tế Đầu tư do PGS. TS Nguyễn Ngọc Mai làm chủ biên (1998) thì: đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) là vốn của các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài đầu tư sang các nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia trực tiếp quản lý quá trình sử dụng và thu hồi số vốn bỏ ra. Theo Giáo trình Kinh tế Đầu tư do PGS.
TS Nguyễn Bạch Nguyệt chủ biên (2007): “FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” [22, tr. Tựu chung lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một khoản đầu tư đòi hỏi một mối quan tâm lâu dài và phản ánh lợi ích dài hạn và quyền kiểm soát (control) của một chủ thể cư trú ở một nền kinh tế (được gọi là chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) trong một doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác nền kinh tế của chủ đầu tư nước ngoài (được gọi là doanh nghiệp FDI hay doanh nghiệp chi nhánh hay chi nhánh nước ngoài). FDI chỉ ra rằng chủ đầu tư phải có một mức độ ảnh hưởng đáng kế đối với việc quản lý doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác. Tiếng nói hiệu quả trong quản lý phải đi kèm với một mức sở hữu cổ phần nhất định thì mới được coi là FDI [22, tr.
Điều kiện thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Phú Thọ 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi Phú Thọ – Đất Tổ Vua Hùng, cội nguồn của dân tộc Việt Nam, là tỉnh thuộc miền núi phía Bắc Việt Nam, nằm ở vị trí giữa 21O - 22O vĩ độ Bắc, và 105O kinh độ Đông, có sông Lô là giới hạn tự nhiên với tỉnh Tuyên Quang và Vĩnh Phúc, Sông Đà là giới hạn tự nhiên với tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội). Phía Bắc giáp Tuyên Quang, phía Nam giáp Hòa Bình, phía Đông giáp Vĩnh Phúc và Hà Nội, phía Tây giáp Sơn La và Yên Bái. Bản đồ hành chính tỉnh Phú Thọ Nguồn: Trung tâm lưu trữ - Sở Tài nguyên & Môi trường Phú Thọ 11 Diện tích của Phú Thọ chiếm 1,2% diện tích cả nước và chiếm 5,4% diện tích vùng miền núi phía Bắc[1, tr.
Hiện nay, tỉnh Phú Thọ có 353.294,93 ha diện tích tự nhiên và 1. Điểm nổi bật của địa hình Phú Thọ là chia cắt tương đối mạnh vì nằm ở phía cuối dãy Hoàng Liên Sơn, nơi chuyển tiếp giữa miền núi cao và miền núi thấp, gò đồi, độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Căn cứ vào địa hình, Phú Thọ chia thành 2 tiểu vùng. Tiểu vùng miền núi gồm các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Hạ Hoà và một phần của huyện Cẩm Khê có diện tích tự nhiên khoảng 182.475,82 ha, dân số khoảng 418.266 người, mật độ dân số 228 người/km2; có độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 200-500m [32, tr.
Đây là tiểu vùng đang khó khăn về giao thông và dân trí còn thấp. Tuy nhiên, ở đây lại có nhiều tiềm năng phát triển, nhất là về lâm nghiệp, khai thác khoáng sản. Tiểu vùng trung du đồng bằng gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ và các huyện Lâm Thao, Phù Ninh, Thanh Thuỷ, Tam Nông, Đoan Hùng và phần còn lại của huyện Cẩm Khê, Hạ Hoà. Diện tích tự nhiên khoảng 169.489,50 ha, dân số khoảng 884.734 người, mật độ 519 người/ km2, có độ cao trung bình so với mực nước biển từ 50 - 200m [32, tr.
Đây đang là tiểu vùng có kinh tế - xã hội phát triển, tiềm năng nông lâm, khoáng sản được khai thác tương đối triệt để, nơi sản xuất nhiều nông sản hàng hoá xuất khẩu như: chè, đậu tương, lạc v. Nơi có nhiều khu, cụm, điểm công nghiệp. Là dải đất ven sông màu mỡ, thuận lợi cho phát triển chè, đậu tương, lạc, vừng, cây ăn quả, sản xuất lương thực, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thuỷ sản. Đây là tiểu vùng thuận lợi về điều kiện giao thông vận tải, có tiềm năng 12 lớn để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp phù trợ, công nghiệp chế biến… Với địa hình vừa có miền núi, vừa có trung du và đồng bằng ven sông, đã tạo ra nguồn đất đai đa dạng, phong phú để Phú Thọ phát triển nông, lâm nghiệp hàng hoá toàn diện với những cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao phù hợp với thị trường trong nước và thế giới.
Tính chất địa hình và cấu tạo địa chất trên cũng tạo cho Phú Thọ nhiều tiềm năng về khoáng sản và du lịch sinh thái. Trong mối liên hệ với Bắc bộ, Phú Thọ là trung tâm giữa các cửa khẩu và cảng biển miền Bắc. Phú Thọ cách cửa khẩu Thanh Thủy - cửa khẩu quan trọng nhất và là cửa khẩu quốc tế duy nhất tại Hà Giang 200km. Cách cửa khẩu quốc tế Lào Cai ( bên Trung Quốc là Hà Khẩu) 200km.
Cách cảng Cái Lân - một trong những cảng lớn nhất Việt Nam 200km và cách cảng Hải Phòng - cảng lớn thứ 2 ở Việt Nam và lớn nhất miền Bắc, cửa ngõ quốc tế của Việt Nam chừng 170km. Thanh Thuy (200 km) Ha Khau (200 km) Cai Lan Port (200 km) Hai Phong Port (170 km) Hình 1. Phú Thọ trong mối liên hệ với Bắc Bộ ( Nguồn:Sở Kế hoạch và Đầu tư Phú Thọ) 13 Với vị trí này, Phú Thọ là cầu nối giữa vùng kinh tế Đồng bằng sông Hồng và các tỉnh miền núi, trung du phía Bắc, là điểm trung chuyển của hoạt động giao lưu kinh tế thương mại giữa Việt Nam với Trung Quốc và giữa Trung Quốc với các nước ASEAN. Phú Thọ hiện giữ vị trí trung tâm vùng về công nghiệp, về sản xuất và chế biến một số sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp (chè, nguyên liệu giấy, thủy sản…), là cửa ngõ tây bắc Thủ đô Hà Nội và là cầu nối vùng Tây Bắc với Hà Nội cùng các tỉnh Đồng bằng Bắc bộ.
Phú Thọ còn là một trong tám tỉnh của nước ta nằm trên trục hành lang kinh tế Hải Phòng - Hà Nội - Côn Minh (Trung Quốc). Đây là tuyến hành lang quan trọng gồm cả đường bộ, đường sắt, và đường sông.Vị trí tỉnh Phú Thọ trong hành lang và vành đai kinh tế (Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ) 14 Như vậy, có thể khẳng định, vị trí địa lí là một trong những nhân tố tạo thuận lợi cho Phú Thọ trong phát triển kinh tế, xã hội cũng như trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Về tài nguyên thiên nhiên, Phú Thọ có những loại đất chủ yếu: Đất peralit đỏ vàng, phát triển trên các đá biến chất, chiếm 66,79% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở Thanh Sơn, Yên Lập, Hạ Hòa. Đây là loại đất đồi núi, tầng đất dày, thành phần cơ giới nặng, trữ ẩm tốt, độ phì khá nên thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp lâu năm, trồng rừng.
Đất phù sa và không được bồi chiếm 8%. Đất dốc tụ khoảng 6,5%. Đất chiêm trũng úng nước mùa mưa chiếm khoảng 6,3%. Với quỹ đất này, hiện nay mới sử dụng được khoảng 67,8% tiềm năng đất nông – lâm nghiệp; còn khoảng 126 nghìn ha đất trống, đồi núi trọc [32, tr17].
Phú Thọ có nguồn tài nguyên nước dồi dào và phong phú với năm sông lớn chảy qua: sông Chảy, sông Hồng, sông Đà, sông Lô, sông Bứa và 41 phụ lưu, 130 con suối nhỏ cùng hàng nghìn hồ, ao phân bố đều khắp trên lãnh thổ, đủ cung cấp cho phát triển công, nông nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh. Riêng diện tích lưu vực của 3 sông lớn (sông Hồng, sông Đà và sông Lô) là 14.575 ha, chứa một dung lượng nước mặt rất lớn. Sông Hồng có chiều dài qua tỉnh 96 km, lưu lượng nước cực đại, có thể đạt 18.000 m3/s ; sông Đà qua tỉnh 41,5 km, lưu lượng nước cực đại 8.