Chương 1: Phần giới thiệu – Tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu của đề tài là gì, các câu hỏi cần phải giải quyết và chỉ ra điểm mới mà đề tài này thực hiện - Chương 2: Tác giả trình bày khái niệm của từng yếu tố kinh tế vĩ mô sử dụng trong bài nghiên cứu này để chỉ ra được lý do vì sao tác giả sử dụng các biến kinh tế vĩ mô này để nghiên cứu trong tình hình hiện nay cho trường hợp Việt Nam, tác giả cũng trình bày một số nghiên cứu trước đây để thấy được sự tác động của một số yếu tố kinh tế vĩ mô đến dòng vốn FDI tại một số quốc gia trên thế giới diễn ra như thế nào. - Chương 3: Trong chương này tác giả trình bày cách thu thập dữ liệu cần thiết cũng như nguồn dữ liệu mà tác giả thu thập để phân tích trong các mô hình kinh tế lượng. Đồng thời tác giả cũng trình bày cơ sở lý thuyết của các kỹ thuật được sử dụng trong nghiên cứu này đó là các phương pháp kiểm định Granger, phân rã phương sai, mô hình tự hồi qui vector để phân tích và kiểm định các kết quả của mô hình nghiên cứu. - Chương 4: Tác giả trình bày kết quả của nghiên cứu và đưa ra những nhận xét và các thảo luận chi tiết của mỗi kết quả thu được, chỉ ra sự thay đổi của từng yếu tố kinh tế vĩ mô sẽ tác động làm thay đổi dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đi vào Việt Nam.
- Chương 5: Thông qua các kết quả thu được của chương 4, tác giả đưa ra kết luận về tác động của mỗi yếu tố kinh tế vĩ mô đến vốn đầu tư trực tiếp FDI, đồng thời đưa ra các điểm mới của bài nghiên cứu cũng như chỉ ra những hạn chế để đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. Điểm mới của đề tài: Bài nghiên cứu này có các điểm mới so với các nghiên cứu trước đây như sau: - Tác giả tiến hành đưa biến độ mở thương mại của Việt Nam vào để xem xét. Ngoài yếu tố GDP thường có ảnh hưởng đến FDI thì việc có những chính sách tăng cường xuất nhập khẩu ngày càng thông thoáng gần đây để đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới có làm cho FDI tăng lên hay không. Việc nghiên cứu độ mở thương mại tại Việt Nam là không mới nhưng đưa độ mở thương mại nghiên cứu đồng thời với nhiều yếu tố kinh tế vĩ mô cũng như GDP cùng tác động lên FDI là còn mới mẻ.
- Sự khởi sắc của kinh tế toàn cầu thường bắt nguồn từ sự khởi sắc của nền kinh tế Mỹ, cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới mà chỉ số S&P 500 thường phản ánh nền kinh tế Mỹ có đang tốt lên hay không do vậy khi chỉ số chứng khoán S&P500 của Mỹ tăng điểm thì nó có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư vào các quốc gia đang thu hút FDI hay không .Các nhà đầu tư tin rằng khi nền kinh tế Mỹ khởi sắc thì cơ hội tiêu thụ hàng hoá ở quốc gia này sẽ gia tăng mạnh, và đây là cơ sở để các nhà đầu tư tăng cường sản xuất hàng hoá để xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Do vậy việc nghiên cứu tác động của chỉ số S&P 500 lên dòng vốn đầu tư FDI là vấn đề đáng được thực hiện để tìm hiểu nó có thật sự ảnh hưởng nhiều đến FDI vào Việt Nam hay không. 123doc 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Giới thiệu các yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI) tại Việt Nam: 2.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): Tổng sản phẩm quốc nội được định nghĩa là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Đây là giá trị cho chúng ta biết mức độ lao động sản xuất hiệu quả của một quốc gia, nó là một chỉ số đo lường sức mạnh về kinh tế của một đất nước. Để biết được nền kinh tế của một quốc gia đang tăng trưởng tốt hay không thì người ta so sánh giá trị GDP của tháng này so với tháng trước, hay là của kỳ này so với cùng kỳ năm trước ( để loại bỏ yếu tố thời vụ) để thấy được mức độ tăng trưởng hay thụt lùi của một nền kinh tế một quốc gia. “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng bền vững về sản phẩm tính theo đầu người hoặc theo từng công nhân”, Simon Kuznet (1966).
Như chúng ta cũng biết ngoài hiệu quả làm việc của mỗi cá nhân trong một quốc gia tốt như thế nào sẽ đóng góp vào sự tăng trưởng nhiều hay ít của một quốc gia thì một quốc gia có dân số lớn cũng sẽ tạo ra giá trị GDP lớn, do vậy giá trị GDP cũng được cho là giá trị đo lường độ lớn nhỏ của một thị trường. Hoặc một quốc gia có thu nhập bình quân đầu người cao cũng được cho là một quốc gia có thị trường lớn bởi trong kinh tế học khi thu nhập tăng cao thì tiêu dùng cũng tăng theo. Chính vì vậy GDP được chọn là đại diện cho độ lớn của một thị trường. Vì vậy khi một thị trường là lớn, nó sẽ hấp dẫn các nhà sản xuất đầu tư vào.
Cho nên kích cỡ thị trường là một thước đo rất quan trọng cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào quốc gia đó, một thị trường lớn sẽ hấp dẫn dòng vốn FDI chảy 123doc 7 vào. Theo Moore (1993) thì đầu tư vào lĩnh vực sản xuất ở các nước Châu Âu đóng vai trò quan trọng đối với các nhà đầu tư, ông nghiên cứu mức độ quan trọng của các yếu tố đó là: điều kiện thị trường lao động, rào cản thuế quan và độ lớn thị trường tác động thế nào đến dòng vốn FDI trong lĩnh vực sản xuất: hoá chất, sắt thép, xe hơi, máy móc,… của các nhà đầu tư Đức đến các quốc gia như thế nào. Và ông phát hiện độ lớn thị trường đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phân phối vốn đầu tư vào các quốc gia đó, vì thị trường càng lớn thì nó sẽ cung cấp nhiều cơ hội hơn cho việc bán hàng và lợi nhuận cũng sẽ cao hơn xuất khẩu. Theo Lý thuyết tăng trưởng kinh tế nội sinh (được nghiên cứu bởi Lucas 1988&1993), Romer (1986) và Mankiw, Romer và Weil (1992)) đã nhấn mạnh vai trò của vốn con người trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài tại các nước đang phát triển.
Theo quan điểm được đưa ra bởi lý thuyết tăng trưởng nội sinh, đầu tư nước ngoài thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn bởi tính tràn công nghệ. Các công ty đa quốc gia được đánh giá là một trong những kênh chuyển giao công nghệ và làm tăng khả năng tích tụ vốn con người tại các nước tiếp nhận nguồn vốn đầu tư thông qua các khóa đào tạo kỹ năng cho đội ngũ lao động địa phương, các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật và công nghệ cho các doanh nghiệp địa phương (các doanh nghiệp cung cấp các yếu tố đầu vào)… (Blomstrom and Kokko 1998). Mặt khác, lý thuyết chiết trung, được phát triển bởi Dunning (1988) đã cung cấp một phương pháp phân tích khác về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế. Dựa trên phân tích về lợi thế cạnh tranh, lý thuyết này chỉ ra rằng việc thu hút nguồn vốn FDI phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố và đặc tính của nước sở tại.
Một trong các nhân tố đó là tăng trưởng kinh tế. Khi tăng trưởng kinh tế tại một quốc gia là cao và ổn định thì nó cũng sẽ thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đến tìm hiểu và đầu tư. 123doc 8 Chính vì vậy mà nghiên cứu tác động của quy mô thị trường đến dòng vốn FDI là vấn đề cần quan tâm. Tỷ giá hối đoái: Trước hết chúng ta cần hiểu tỷ giá hối đoái là gì: Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền của hai quốc gia là tỷ lệ trao đổi mà tại đó một đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác.
Nó cũng được coi là giá trị tiền tệ của một quốc gia đối với một tiền tệ khác. Sự tăng giá và giảm giá của đồng tiền có ảnh hưởng đến giá của xuất khẩu và nhập khẩu làm tính cạnh tranh và vị thế tương đối của một quốc gia trên thị trường thế giới dao động theo hướng thỉnh thoảng có lợi thế cho quốc gia đầu tư và thỉnh thoảng cũng bất lợi. Theo Aliber (1970) thì những công ty ở những quốc gia có đồng tiền mạnh thì sẽ hỗ trợ họ trong việc đi đầu tư hơn là những công ty từ những quốc gia có đồng tiền yếu hơn. Vậy nên tác giả muốn đưa yếu tố tỷ giá hối đoái vào nghiên cứu thực tế để xem xét nó tác động thế nào đến vốn FDI.
Độ mở thương mại: Độ mở thương mại thể hiện sự hội nhập của một quốc gia vào thương mại quốc tế. Độ mở thương mại của một nền kinh tế nói đến phạm vi mà những quốc gia hay nền kinh tế đó thừa nhận hoặc có thương mại với những quốc gia hoặc nền kinh tế khác. Độ mở thương mại được tính bằng phần trăm theo GDP của xuất khẩu và nhập khẩu cộng lại. Nó cũng được xem như là một yếu tố chính ảnh hưởng đến dòng vốn FDI.
Dòng vốn FDI sẽ bị kìm hãm nếu có một chính sách bảo hộ các nhà sản xuất trong nước, ngược lại thì dòng vốn FDI sẽ tăng lên khi có sự tự do hóa thương 123doc 9 mại cao ở quốc gia đó. Và mức độ xuất nhập khẩu của quốc gia được xem là biến đại diện cho độ mở cửa của một nền kinh tế. Bengoa và Sachez-Roches (2003) đã tiến hành khảo sát 18 quốc gia đang phát triển ở châu Mỹ Latin, tiến hành hồi qui trên dữ liệu bảng từ năm 1970 đến năm 1999 để tìm mối quan hệ giữa tự do thương mại, FDI và tăng trưởng. Bài nghiên cứu phát hiện rằng dòng vốn FDI được thúc đẩy nhờ vào mức độ tự do hoá thương mại của quốc gia thu hút vốn FDI.
Hiện nay Việt Nam là quốc gia được đánh giá là có độ mở thương mại thuộc vào loại cao trên thế giới.