Chương 1 KHÁI QUAT CHUNG VE SỞ HỮU TÀI SAN CUA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm người nước ngoài và quyền sở hữu tài sản 1. Khái niệm người nước ngoài Từ điển Black's Law Dictionary định nghĩa người nước ngoài là: “Mot người cư trú trong biên giới của một quốc gia nhưng không phải là công dan hoặc chủ thé của quốc gia dé”? Dưới góc độ pháp lý, hiện co nhiều quan niệm khác nhau về Người nước ngoài. Với góc độ luật nhân quyền quốc tế, tại Điều 1 Tuyên bố về quyển của những người không phải là công dan nước ma họ đang sinh sống, được thông qua trong Nghị quyết số 40/144 của Đại hội đồng Liên Hợp quốc ngày 13/12/1985 định nghĩa “người nước ngoài” (alien) là: “.
bat cứ người nào không phải là một công dan của quốc gia mà họ đang sinh sống ”. Khái niệm NNN cũng được pháp luật các quốc gia ghi nhận khá thống nhất. Đạo luật Nhập cư và Quốc tịch của Hoa Ky (Immigration and Nationality Act) giải thích: Thuật ngữ “người nước ngoai” có nghĩa là bat kỳ người nào không phải là công dân hoặc quốc tịch Hoa Ky (The term "alien" means any person not a citizen or national of the United States).4 Tại Hoa Ky, ngoại kiểu là người được sinh ra bên ngoài quyền tai phán của Hoa Kỳ, là đối tượng của một số chính phủ nước ngoài và chưa nhập quốc tịch theo luật pháp Hoa Ky. Luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về nhập cảnh và xuất cảnh của NNN năm 1985 tại Điều 31 giải thích thuật ngữ “người nước ngoai” là ? Black's Law Dictionary, Thomson Reuters; 11th edition (June 10, 2019) (tr.
84) l 3 Tuyên bố về quyền của những người không phải là công dân nước mà họ đang sinh sống, 1985, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Tuyen-bo-ve-quyen-cua-nguoi-khong-phai-cong-dan- nuoc-ho-sinh-song-1985-275839.aspx 4 Đạo luật Nhập cư va Quốc tịch của Hoa Ky, https://www.edu/uscode/text/8/1101 9 bất kỳ người nào không có quốc tịch Trung Quốc theo Luật Quốc tịch của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.” Theo đó, tại các điều 4, 5, 6 Luật Quốc tịch năm 1980 quy định về điều kiện có quốc tịch Trung Quốc như sau:Š - Người sinh ra ở Trung Quốc có cha mẹ déu là công dân Trung Quốc và một trong hai cha mẹ 1a công dân Trung Quốc sẽ có quốc tịch Trung Quốc. - Người sinh ra ở nước ngoài có cha mẹ đều là công dân Trung Quốc và một trong hai cha mẹ là công dân Trung Quốc sẽ có quốc tịch Trung Quốc. Nhưng một người có cha mẹ đều là công dân Trung Quốc và đều định cư ở nước ngoài, hoặc một trong hai cha mẹ là công dân Trung Quốc va đã định cư ở nước ngoai, và người đã có quốc tịch nước ngoài khi sinh ra thì không có quốc tịch Trung Quốc. - Người sinh ra ở Trung Quốc có cha mẹ là người không quốc tịch hoặc có quốc tịch không xác định và đã định cư ở Trung Quốc Sẽ co quốc tịch Trung Quốc.
Như vậy, ngoài các trường hợp được xác định là có quốc tịch Trung Quốc như trên, những người đang hiện diện tại Trung Quốc khác sẽ được xác định là NNN. Tại Việt Nam, khái nệm NNN được định nghĩa trong nhiều văn bản pháp luật hiện hành và có sự khác biệt nhất định giữa các văn bản. Tại khoản 5 Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008 quy định: NNN cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam. Cụ thé, TEƯỜI có quốc tịch nước ngoài là người có quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam (khoản 1 Điều 5); người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam va cũng không có quốc tịch nước ngoài (khoản 2 Điều 5), tức là người không mang quốc tịch của quốc gia này.
Mặc dù có sự phân loại như vậy nhưng về cơ bản, nội dung 5 Luật Xuất nhập cảnh của người nước ngoài của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, năm 1985 https://www.org/dyn/natlex/docs/ELECTRONIC/92651/108036/F1429291416/CHN92651%20Eng.pdf © Luật Quốc tịch của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1980, https:/Avww.hk/eng/residents/immigration/chinese/law.htm1 10 quy chế pháp lý dân sự của NNN và người không quốc tế là giống nhau. Vì vậy, việc xếp hai phạm trù công dân nước ngoài và người không quốc tịch vào phạm trù rộng hơn là “người nước ngoài” khi xem xét quy chế pháp lý của họ là phù hợp.” Như vậy, Luật Quốc tịch đang xác định phạm vi thuật ngữ NNN bao gồm công dân nước ngoài và người không quốc tịch, tức chi bao gồm cá nhân. Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của NNN tại Việt Nam năm 2014 tại khoản 1 Điều 3 xác định: “J. NNN là người mang giấy tò xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quả cảnh, cư tru tại Việt Nam”.
Như vậy, NNN được xác định bao gồm nguoi mang quốc tịch nước ngoai (có thé mang cả quốc tịch Việt Nam va quốc tịch nước ngoài hoặc chỉ có quốc tịch nước ngoai) và người không có quốc tịch, tức chỉ bao gồm cá nhân. Quy định này chỉ áp dụng đối với NNN nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam. Trước đây Pháp lệnh về Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của NNN tại Việt Nam năm 2000 cũng đưa ra khái niệm “NNN là người không có quốc tịch Việt Nam”. Pháp lệnh này cũng đưa ra khái niệm về “NNN thường trú” là NNN cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam; “NNN tạm trú” là NNN cư trú có thời hạn ở Việt Nam.
Điều 3 Luật Dau tư năm 2020 không quy định về NNN nhưng định nghĩa nha đầu tư nước ngoài như sau: Nhà đầu tu nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tr kinh doanh tại Việt Nam. Như vay, khái niệm nha đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật Dau tu bao gồm ca cá nhân và pháp nhân. Trong đó, cá nhân nước ngoài ở đây được xác định chỉ bao gồm cá nhân mang quốc tịch nước ngoài, không bao gồm người không quốc tịch. Tại Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15/01/2006 quy định chỉ tiết thi hành các quy định của BLDS về quan hệ dân sự có yêu tố nước ngoai cũng xác định hai nhóm chủ thê là: “NNN” là người không có quốc tịch Việt Nam, 7 Đoàn Năng (2001), Một số vấn dé lý luận cơ ban về tư pháp quốc tế, Nxb.
Chỉnh trị quốc gia, Hà Nội, tr 108 1i bao gém người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch (khoản 2 Điều 3) và “Pháp nhân nước ngoài ` là pháp nhân được thành lập theo pháp luật nước ngoài (khoản 5 Diéu 3). Trước đây theo Nghị định số 51/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 19/2008/QH12 về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và SHNƠ tại Việt Nam cũng định nghĩa về cá nhân nước ngoài và doanh nghiệp có vén dau tư nước ngoài cũng định nghĩa: Cá nhân nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam; Doanh nghiệp có vốn dau tu nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đâu tu thành lập dé thực hiện hoạt động đẩu tư nước ngoài tại Việt Nam hoặc doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cô phan, sáp nháp, mua lại dé trực tiếp quan by theo quy định của pháp luật. Từ các phân tích trên cho thay việc xác định NNN có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, các quốc gia cũng như Việt Nam đều lấy dâu hiệu nhận biết “NNN” là yếu tố quốc tịch. Trên cơ sở đó, pháp luật các quốc gia đều xác định, nước ngoài là người không mang quốc tịch của quốc gia sở tại, bao gồm người có quốc tịch của quốc gia khác và người không quốc tịch của quốc gia nào.
Như vậy, NNN tại Việt Nam được xác định là người không mang quốc tịch Việt Nam, bao gồm người mang quốc tịch của một hoặc nhiều quốc gia khác và người không quốc tịch. Quốc tịch là méi quan hệ chính trị - pháp lý giữa cá nhân cụ thé với chính quyên nhà nước nhất định. Mối quan hệ nay có tính bền vững, ôn định về mặt thời gian và không bị giới hạn về phạm vi không gian lãnh thổ. Theo Luật Quốc tịch năm 2008 của Việt Nam: “Quốc tịch Việt Nam thé hiện mỗi quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Liệt Nam, làm phát sinh quyên, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm cua Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Liệt Nam đối 12 với công dân Việt Nam ”Š.
Điều này quyết định đến sự khác biệt trong cơ chế pháp lý đối với công dân va NNN tại quốc gia sở tại. Theo đó, cơ chế pháp lý của người nước sẽ có sự khác biệt nhất định với công dân của nước sở tại. Đặc biệt, có một số quyển và nghĩa vụ chỉ dành cho công dân của quốc gia SỞ tal; ngược lại một sỐ quyển sẽ bị hạn chế với NNN. Mức độ hạn chế quyển đối với NNN phụ thuộc vào chế độ chính trị, sự mở cửa về kinh tế-xã hội của các quốc gia.
Thứ hai, theo các quy định của pháp luật Việt Nam có thê thấy phạm vi khái nệm NNN hiện được xác định theo cả nghĩa rộng bao gồm cá nhân và pháp nhân nước ngoài; và xác định theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm cá nhân nước ngoài. Nhìn một cách khái quát nhất trong tất cả các mối quan hệ xã hội có sự tham gia của nước ngoài thì khái niệm này cần được tiếp cận ở phạm vi rộng. Trong Luận văn, khái nệm NNN cũng được tiếp cận ở góc độ bao gồm cá nhân nước ngoài và pháp nhân nước ngoai. Thứ ba, về phân loại NNN tại quốc gia sở tại, có thể có nhiều cách phân loại phủ hợp với mục đích xây dựng các quy chế pháp lý khác nhau: Căn cứ vảo quan hệ quốc tịch: NNN được chia thành người có quốc tịch và người không có quốc tịch.
Cách phân chia nay sẽ giúp cho các co quan có thâm quyển của nước sở tại xác định được người nào có các quyển và nghĩa vụ gắn liền với quốc tịch mà họ mang, dé trên cơ sở đó xem xét áp dụng cơ sở nào xây dựng quy chế pháp lý dân sự cho họ tại nước sở tại. Căn cứ vào thời gian cư trú trên lãnh thổ nước sở tại và mức độ ổn định của mối quan hệ pháp lý với nhà nước đó, NNN được chia thành NNN thường trú và NNN tạm trú.