CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN QUAN HỆ ĐẦU TƯ GIỮA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN 1. Khái quát về đầu tư quốc tế 1. Khái niệm về đầu tư quốc tế Hoạt động đầu tư quốc tế xuất hiện lần đầu tiên với tên gọi “đầu tư nước ngoài” trong các giáo trình tư pháp quốc tế (ở Pháp năm 1955, …), trong các hội thảo luật quốc tế và được quy định cụ thể trong các bộ luật đầu tư nước ngoài, thậm chí là trong cả các hiệp định song phương và đa phương về đầu tư. Có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư quốc tế, có thể kể đến định nghĩa đầu tư nước ngoài được đề cập tại hội thảo của Hiệp hội Luật quốc tế ở Helsinki (Phần Lan) năm 1966: “Đầu tư nước ngoài là sự di chuyển vốn từ nước của người đầu tư sang nước của người sử dụng nhằm xây dựng ở đó xí nghiệp kinh doanh hoặc dịch vụ”.
Tuy nhiên, định nghĩa này chưa thực sự nêu được mục đích của đầu tư nước ngoài. Ngắn gọn hơn nữa ta có định nghĩa của World Bank “Đầu tư nước ngoài là sự đầu tư vào doanh nghiệp hoạt động bên ngoài nước chủ đầu tư”. Luật Đầu tư của Việt Nam ban hành vào 2005 cũng có quy định: “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” Tổng kết lại, đầu tư quốc tế có thể được định nghĩa như sau: Đầu tư quốc tế là việc các nhà đầu tư của một nước (pháp nhân hoặc cá nhân) đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào khác sang một nước khác để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động khác nhằm thu lợi nhuận hoặc đạt các hiệu quả xã hội. Hoạt động đầu tư quốc tế mang tầm nghĩa quan tr ọng, là điều kiện cơ sở để các nước có thể tiếp cận và học hỏi trình độ công nghệ tiến bộ của những nước phát triển hơn.
Hoạt động này có thể bao gồm nhiều hình thức với nhiều tiêu chí phân loại khác nhau. Phân loại Các tiêu chí phân loại có thể được sử dụng rất đa dạng: theo chủ đầu tư, theo thời hạn đầu tư, theo quan hệ giữa chủ đầu tư và đối tượng tiếp nhận đầu tư… Cách phân loại thường được sử dụng nhiều nhất là theo chủ đầu tư. Theo tiêu chí này, đầu 5 tư quốc tế gồm hai hình thức là đầu tư tư nhân quốc tế và đầu tư phi tư nhân quốc tế. Chi tiết hơn với nhánh đầu tư tư nhân quốc tế ta có ba hình thức là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đầu tư chứng khoán nước ngoài (FPI) và tín dụng tư nhân.
Trong đó: còn trong đầu tư phi tư nhân quốc tế gồm hai loại là hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và hỗ trợ chính thức (OA) - FDI là hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó. Quyển kiểm soát (tham gia vào việc đưa ra các quyết định quan trọng liên quan đến chiến lược và các chính sách phát triển của công ty) chính là yếu tố cơ bản giúp phân biệt sự khác nhau giữa hình thức này với FPI. Có nhiều loại hình FDI như đầu tư mới (greenfield investment), sáp nhập và mua lại qua biên giới (cross-border merger & acquisition) (theo cách thức xâm nhập); hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (theo hình thức pháp lý). - FPI là hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước mua chứng khoán của công ty, các tổ chức phát hành ở một nước khác với mức khống chế nhất định để thu lợi nhuận nhưng không nắm quyền kiểm soát trực tiếp đối với tổ chức phát hành chứng khoán.
- Tín dụng tư nhân là hình thức đầu tư quốc tế chỉ việc nhượng quyền sử dụng vốn của chủ thể tín dụng (ngân hàng, tổ chức tín dụng, nhà cung cấp tín dụng thương mại…) nước này sang cho chủ thể nước kia nhằm mục đích kinh doanh theo nguyên tắc hoàn trả cả vốn gốc và lãi trong một thời hạn nhất định. Một nhánh khác là đầu tư phi tư nhân quốc tế với chủ đầu tư là các chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế, các tổ chức phi chính phủ gồm có hai hình thức là hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và hỗ trợ chính thức (OA). ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi của chính phủ, tổ chức phi chính phủ… dành cho các nước đang và chậm phát triển. ODA là vốn mang cả tính ưu đãi đến cho nước tiếp nhận và lợi ích cho nước viện trợ.
Tuy nhiên, vốn ODA có thể có những ràng buộc nhất định (nhiều khi rất chặt chẽ) xuất phát từ nước viện trợ và là nguồn vốn có thể gây nợ cho nước tiếp nhận. Về cơ bản, vốn 6 OA có những đặc điểm gần giống như ODA nhưng lại có phạm vi đối tượng tiếp nhận đầu tư rộng hơn (dành cả cho những nước có thu nhập cao). Đầu tư quốc tế là lĩnh vực rộng bao gồm rất nhiều dạng khác nhau, tuy nhiên với mong muốn làm nổi bật quan hệ đầu tư giữa Việt Nam và Nhật Bản nên nhóm tác giả sẽ tập trung khai thác trên phương diện đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Vai trò của đầu tư quốc tế 1.
Vai trò của vốn FDI Có rất nhiều nghiên cứu về tác động của đầu tư quốc tế, đặc biệt là tác động của vốn FDI chẳng hạn như nghiên cứu của Maria Carkovic và Ross Levine giải đáp vấn đề liệu FDI có giúp đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế hay không, hay Magnus Blomstrom và Ari Kokko có bài tìm hiểu về tác động của FDI đối với nước nhận đầu tư. Thế nhưng đặc biệt hơn cả là lý thuyết về lợi ích của đầu tư nước ngoài của MacDougall – Kemp khi chỉ ra rằng sự tăng vốn FDI ngoài việc làm tăng tổng sản lượng đầu ra còn giúp phân phối lại thu nhập giữa nhà đầu tư và người lao động, trong đó giới hạn phạm vi hợp tác đầu tư giữa một nước công nghiệp phát triển và một nước đang phát triển. Tựu chung lại, ta có những điểm chính sau: - Về tác động tích cực: + Đối với nước chủ đầu tư: ảnh hưởng rõ nhất chính là thông qua tận dụng các lợi thế của nước tiếp nhận vốn như chi phí lao động thấp, lao động lành nghề, tài nguyên thiên nhiên phong phú có thể tiết kiệm được chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tỷ suất lợi nhuận; đồng thời còn giúp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm khi mà vòng đời sản phẩm đang tới giai đoạn bão hòa, đổi mới cơ cấu sản phẩm, tiếp thu được kinh nghiệm từ đó sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh và cả bành trướng sức mạnh kinh tế, nâng cao vị thế trên trường quốc tế. + Đối với nước nhận đầu tư: hầu hết trong cơ cấu đầu tư của các nước thì tỉ trọng vốn FDI rất cao bởi những lợi ích to lớn mà nó mang lại.
Đáng kể đầu tiên là việc góp phần bổ sung một lượng vốn lớn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giúp các nước đang và kém phát triển có được cú hích từ bên ngoài để thoát khỏi cái vòng lẩn quẩn của nghèo đói bởi ở những nước này vốn dĩ GDP và GDP bình quân đầu người thấp nên việc tích lũy nội lực cho nền kinh tế hầu như rất khó khăn dẫn đến 7 năng suất lao động thấp, vì vậy việc xuất hiện nguồn vốn bên ngoài như FDI chẳng những giúp phá vỡ thế bế tắc đó mà còn tạo điều kiện cho nguồn vốn nhà nước tập trung vào phát triển các vấn đề kinh tế xã hội cấp thiết như đường sá, trường học, phúc lợi xã hội… Vai trò nổi bật thứ hai chính là cơ hội tiếp cận công nghệ và kỹ năng quản lý. Khi mà có sự hạn chế về nguồn vốn trong nước để nhập khẩu công nghệ hiện đại thay thế cho công nghệ lạc hậu, cũ kỹ của quốc gia thì việc các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành dự án thường kèm theo cả chuyển giao công nghệ dưới dạng các tiến bộ công nghệ, sản phẩm công nghệ, kỹ thuật kiểm tra chất lượng cùng với các bí quyết quản lý kinh doanh mà họ đã tích lũy, phát triển qua nhiều năm với chi phí lớn sẽ giúp cho mục tiêu đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trở nên dễ dàng hơn. Tác động thứ ba chính là việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực trong tác động của việc tham gia sâu rộng hơn vào quá trình phân công lao động khu vực và toàn cầu do chủ yếu các doanh nghiệp FDI đầu tư vào các ngành công nghiệp và dịch vụ mà những ngành này là ưu tiên hàng đầu đối với các nước đang phát triển, hơn nữa hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn làm xuất hiện thêm những lĩnh vực, ngành kinh tế mới và sự củng cố, tăng tỷ trọng ở một số ngành do trình độ công nghệ, năng suất lao động trong các ngành này tăng. Vai trò cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng đó là tạo việc làm và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Bởi lẽ khi các nhà đầu tư thực hiện các dự án tại nước tiếp nhận thường sẽ thuê lao động địa phương nhằm mục đích gia giảm chi phí sản xuất xuống thấp. Do đó, thu nhập của một bộ phận dân cư chẳng những được tăng lên, đóng góp vào phát triển kinh tế mà qua đó họ còn được đào tạo tay nghề, kỹ năng chuyên môn cao. - Về tác động tiêu cực: + Đối với nước chủ đầu tư: ảnh hưởng thấy rõ nhất có lẽ là cán cân thanh toán. Trong giai đoạn đầu dòng vốn sẽ chảy ra, tài khoản vãng lai sẽ thâm hụt nếu vốn FDI được dùng nhằm thay thế cho việc xuất khẩu trực tiếp.
Ngoài ra, FDI còn có thể tác động đến việc làm và lao động trong nước, sự ổn định của đồng tiền hay sự quản lý về vốn và công nghệ.